PODCAST · education
Triết học và Tư duy phản biện
by Đạt Vũ
Rèn luyện tư duy Phản biện thông qua các câu hỏi, vấn đề triết học kinh điển
-
33
Bài 33: Giả khoa học và Dở khoa học
Bài trước, ta đã tìm hiểu một cách tổng quát về phương pháp của khoa học. Nhưng có những thứ nhìn thì giống khoa học, nhưng lại không tuân theo một quy trình của khoa học theo cách mà giúp ta tự tin hơn trong những phát biểu tri thức. Những thứ này được gọi là giả khoa học (pseudoscience).Ví dụ về giả khoa học có thể kể đến danh sách dài như: vi lượng đồng căn, chiêm tinh học, phân tích chữ viết tay, cảm xạ nước, nghiên cứu hộp sọ…Giả khoa học thường có 3 đặc tính có thể phân biệt được sau đây:Dựa trên những bằng chứng từ kinh nghiệm cá nhân hơn là dựa trên những bằng chứng có thể tái phát triển.Thiếu những bộ khung giải thích (học thuyết)Không thể kiểm sai đượcNgoài ra, có thể kể thêm đến các đặc tính như: chỉ ủng hộ một quan điểm đặc thù nào đó, không sẵn sàng để làm thí nghiệm kiểm thử, sử dụng những từ ngữ cực kì mơ hồ khiến ta khó chỉ ra đâu là các yếu tố nhân quả (ví dụ ‘năng lượng âm’ hay ‘ý thức lượng tử’), không sẵn sàng thảo luận với cộng đồng khoa học rộng lớn hơn.Một cách tổng quát hơn, khoa học khác với giả khoa học ở chỗ khoa học có sự phát triển hoặc giúp các lĩnh vực khác phát triển. Ví dụ, những kiến thức khoa học về cấu trúc nguyên tử đã giúp tạo ra nhiều loại vật liệu mới. Vi lượng đồng căn, chiêm tinh học hay nhiều kiến thức giả khoa học khác không cho thấy sự tiến triển nào kể từ khi nó ra đời. Sự phát triển của chúng là một đường kẻ ngang.Vẫn có rất nhiều người tin vào các kiến thức giả khoa học, điều đó chứng tỏ giả khoa học có hợp lý (rational). Tuy nhiên, sự hợp lý đó không phải kiểu hợp lý mà chúng ta được học trong khóa học này – đó là sử dụng các lập luận diễn dịch và quy nạp. Giả khoa học vẫn hợp lý theo cách riêng của nó, và đó là thứ tuyệt vời để khuấy động tính tò mò của chúng ta.Bạn có thể tưởng tượng được điều gì xảy ra nếu người ta làm khoa học bằng mọi cách, bất chấp các rào cản về đạo đức. Mời các bạn theo dõi video sau:Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
32
Bài 32: Phương pháp của khoa học và phép kiểm sai
Phương pháp của khoa họcTrong phần 4 của khóa học, chúng ta đã thấy được những lợi ích của việc cùng nhau xác minh các tri thức. Tổng kết lại, ta đã nói về: việc cải thiện độ chính xác khi khái quát hóa, khả năng phát hiện lỗi, tính tái sử dụng và độ tin cậy, bộ khung giải thích và thiên kiến nhận thức.Trong mỗi các trường hợp này, ta thấy rằng việc hợp tác có thể giúp mỗi người tự tin hơn về những gì mình biết. Mặc dù ta không thể giải quyết được triệt để vấn đề được đặt ra bởi chủ nghĩa hoài nghi hay biết chắc 100%, nhưng ít nhất chúng ta cũng cải thiện được điều gì đó trong lý luận của mình.Chúng ta đã phát triển được nhiều cách thức để hệ thống hóa khía cạnh xã hội của việc xác minh tri thức. Một trong số những cách phổ biến nhất, và có lẽ là thành công nhất đó là khoa học.Những phương pháp của khoa học đã phát triển để giúp đối phó với những vấn đề mà mỗi cá nhân không thể tự giải quyết được, và chúng tối ưu nhiều cách trong đó chúng ta có thể cùng nhau tạo ra và xác minh tri thức. Cải thiện việc khái quát hóa. Các nhà khoa học là những người được đào tạo kĩ lưỡng trong việc quan sát, đo đạc và ghi chép. Họ thực hiện điều này bằng những cách thức chuyên biệt cao, như chú trọng vào giá trị định lượng giúp việc phát hiện ra các xu hướng và đưa ra các phát biểu dựa trên khái quát hóa quy nạp trở nên thuyết phục hơn.Phát hiện lỗi. Các nhà khoa học giao tiếp thông qua việc lập luận. Họ đưa ra các tiền đề hay kết luận bằng cách sử dụng các bằng chứng của chính họ hoặc của người khác. Các bài báo khoa học thường báo cáo những gì được phát hiện, được phát hiện ra sao, và có thể tiếp tục suy ra các kết luận gì từ những phát hiện này. Những bài báo này được nhận xét chéo giữa các nhà khoa học với nhau để đảm bảo những lập luận được đưa ra là những lập luận hợp lý. Thông thường, các nhà khoa học làm việc này trước khi mỗi bài báo khoa học được xuất bản. Tái phát triển và độ tin cậy. Một trong những đặc điểm cốt lõi của khoa học là những phát hiện khoa học mới đều được đăng tải công khai trên các tập san khoa học. Điều này cho phép các nhà khoa học khác có thể xác minh bất kì một phát biểu nào. Nó cũng cho phép họ kiểm tra các phương pháp đã được sử dụng có sản sinh ra các bằng chứng đáng tin cậy hay không. Trong khi đó, các bằng chứng xuất phát từ những kinh nghiệm cá nhân ở những môi trường không kiểm soát được – thường không được chấp nhận là bằng chứng vì chúng không thể tái phát triển được.Bộ khung giả thích. Khoa học nổi tiếng trong việc đưa ra các bộ khung giải thích quan hệ nhân quả. Những bộ khung này được gọi là các học thuyết, và là mô hình của vũ trụ, hay các phần của nó, thứ mà cố gắng giải thích tại sao một hệ quả / hiện tượng cụ thể lại xảy ra. Chúng cũng giúp các nhà khoa học đưa ra các dự đoán dựa trên các học thuyết của họ, tức là chúng có thể được điều chỉnh để phù hợp với những bằng chứng mới.Thiên kiến nhận thứcThiên kiến (thành kiến) nhận thức là những thiên kiến mà mỗi cá nhân mắc phải trong tư duy. Chúng không dễ dàng xuất hiện trong cả một nhóm người – mặc dù mỗi cá nhân trong một nhóm thì rất dễ mắc phải chúng. Khi các nhà khoa học đánh giá những công trình nghiên cứu của người khác, họ phải rất cẩn thận để tránh những thiên kiến này (mặc dù không phải lúc nào họ cũng thành công).Khoa học là một ví dụ về cách tiếp cận có thệ thống trong việc cải thiện tư duy phản biện. Nó có nghĩa là giúp nhau cùng tạo ra và xác minh tri thức. Nhưng điều đó không có nghĩa là khoa học luôn luôn đúng. Trong lịch sử, khoa học đã không ít lần đưa ra những phát biểu sai nhưng lại được chấp nhận rộng rãi. Nhưng việc tìm hiểu thế giới cho đến nay vẫn là công lao của các nhà khoa học. Nó không phải là một hệ thống hoàn hảo, nhưng nó có một tiến trình thực hiện cụ thể – đây cũng chính là điều phân biệt nó với thứ được gọi là giả khoa học.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
31
Bài 31: Thiên kiến nhận thức và ngụy biện logic
Chúng ta vẫn thường có nhiều hoài nghi về các phát biểu tri thức. Và đó là khi chúng ta giả định rằng bộ não của chúng ta hoạt động bình thường. Nhưng trên thực tế, chúng ta hay mắc phải những lỗi mang tính hệ thống trong tư duy. Những lỗi này rất khó để nhận ra chứ chưa nói đến việc sửa chữa chúng. Những lỗi như thế này được gọi là thiên kiến nhận thức (coginitive bias). Chúng có thể kiến chúng ta đưa ra những kết luận quá sớm hoặc sai lầm.Một trong các thiên kiến chúng ta hay gặp nhất là thiên kiến xác nhận (confirmation bias). Đó là khi chúng ta chỉ để tâm đến những thông tin khớp với hoặc ủng hộ những niềm tin sẵn có của ta mà xem nhẹ hoặc phớt lờ đi những thông tin không khớp / mâu thuẫn với những niềm tin này.Ví dụ, tôi tin rằng là các học sinh lớp X lười học. Vì vậy, tôi thường chú ý hơn đến các trường hợp học sinh không làm bài tập hay mải nói chuyện riêng trong giờ học mà ngó lơ, không thật sự chú ý đến những học sinh tập trung và chăm chỉ làm bài tập.Đây là lĩnh vực kiến thức rất thú vị, bạn nên tìm đọc 2 cuốn sách là Tư duy nhanh và chậm và Phi lí trí để hiểu sâu hơn.Ngụy biện logicNgụy biện là các lỗi mắc phải khi lý luận (ví dụ ngụy biện thành phần và tổng thể), trái ngược với việc măc lỗi liên quan đến bản chất thực tế của sự vật hiện tượng (factual mistakes). Nếu trong một căn phòng thực tế có 21 người nhưng tôi chỉ đếm thấy có 20 người thì đó là tôi mắc lỗi factual mistakes. Nếu gió làm đổ lọ hoa đang đặt trên bàn đúng lúc con mèo vừa nhảy lên nhưng tôi lại đổ lỗi cho con mèo vì làm vỡ lọ hoa (với lập luận rằng lọ hoa đổ ngay sau khi con mèo nhảy lên) thì tôi đang mắc một lỗi ngụy biện (fallacy).Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
30
Bài 30: Tuân thủ quy tắc
Khi tư duy hay lý luận về điều gì đó, chúng ta sử dụng các khái niệm. Chúng ta gọi con dao là con dao và cái bút là cái bút, và cố gắng không nhầm lẫn giữa 2 khái niệm này. Nếu ta gọi con dao là cái bút hay ngược lại, chúng ta đã mắc lỗi và nên sẵn sàng sửa chữa. Khi áp dụng những khái niệm và các thuật ngữ của một loại ngôn ngữ tự nhiên, dường như chúng ta đang tuân theo những quy tắc nhất định. Những quy tắc đó thuộc kiểu quy tắc cấu thành hay không cấu thành? Và như thế nào là tuân thủ một quy tắc mới được?Những quy tắc chi phối việc sử dụng các khái niệm hoặc các thuật ngữ ngôn ngữ học có liên quan tới một thứ gọi là ngữ nghĩa (meaning). Nếu biết quy tắc tôi đang tuân thủ khi gọi thứ gì đó là con dao, tôi có thể được cho là hiểu từ “con dao” nghĩa là gì. Khi đã biết nghĩa của một thuật ngữ, tôi có thể phân biệt thứ này với thứ khác. Nếu tôi biết nghĩa tương ứng của hai từ “con dao” và “cái bút”, tôi biết những điều kiện gì phải được đáp ứng để một thứ được gọi là con dao và những điều kiện gì phải được đáp ứng để một thứ được gọi là cái bút và đâu là sự khác biệt quan trọng giữa hai tập hợp điều kiện này. Nếu biết hai thuật ngữ đồng nghĩa với nhau như “mướp đắng” và “khổ qua”, tôi biết những điều kiện để áp dụng những thuật ngữ này là hoàn toàn giống nhau. Nếu những điều kiện để áp dụng một trong hai khái niệm hay thuật ngữ này không được đáp ứng, thì khái niệm hay thuật ngữ còn lại cũng không nên được áp dụng. Làm như vậy sẽ mắc lỗi hoặc đó là một cách sử dụng từ theo nghĩa bóng. Chưa cần quan tâm đến nghĩa bóng của một từ là gì, như thế nào là thuân thủ một quy tắc chi phối nghĩa đen của một khái niệm hay thuật ngữ trong một loại ngôn ngữ tự nhiên?Đa phần các triết gia và nhà ngôn ngữ học cho rằng các quy tắc chi phối việc áp dụng các khái niệm thuộc loại quy tắc cấu thành. Tức là, chính vì quy tắc “con dao nghĩa là con dao” mà từ “con dao” chỉ được áp dụng cho tất cả những vật thể là thuộc loại dao và gọi một cái bút là con dao sẽ được tính là một lỗi. (Chúng ta đang giả định một ngữ cảnh mà người nói nghĩa đen chứ không phải nghĩa bóng).Đây không thể là quy tắc không cấu thành bởi vì không có vật thể nào có thể được gọi là con dao trước khi có sự xuất hiện của quy tắc con dao.Ngoài sự tồn tại của quy tắc, điều gì quyết định chính âm thanh cũng là một phần của một ngôn ngữ. Điều gì đảm bảo việc tôi thốt ra 2 tiếng “con dao” là có nghĩa mà không phải là một âm thanh bình thường phát ra từ cơ thể như tiếng hắt xì hơi hay tiếng thở dài? Có một vấn đề gọi là loạn ngôn. Nếu hai tiếng “con dao” được thốt ra nhằm ám chỉ một loạt các vật thể như cái bút, bàn chải, cây gậy, cái xẻng, túi xách hay thậm chí là cả ồ hố của bạn – thì chúng ta sẽ không cách nào biết được đâu là trường hợp sử dụng đúng từ “con dao”, đâu là sai. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào tất cả những thứ có thể khiến bạn thốt ra tiếng “con dao”, thì nghĩa của thuật ngữ này sẽ bị loạn trên diện rộng. Nó sẽ có nghĩa là ‘cái bút, bàn chải, cây gậy, cái xẻng, ồ hố hay bất kì thứ gì khác, nếu như các điều kiện đủ đặc thù khiến bạn sử dụng từ ‘con dao’.Nếu tôi không thể chỉ ra sự khác nhau giữa một con dao và một cái bút, thì khi tôi mắc lỗi khi gọi một con dao là cái bút, đó không phải vì bất kì thứ gì mang tính nội bộ (internal) đối với tôi hay cách dùng thuật ngữ “con dao” của tôi. Ngay cả khi tôi chưa một lần trong đời thất bại trong việc phân biệt một cái bút với con dao hay con dao với ồ hố của bạn, thì đó vẫn không phải lỗi của tôi. Đặc tính quan trọng của một quy tắc đó là nó áp dụng cho bất kì một số lượng vô hạn các trường hợp – do đó, ‘con dao’ chỉ tất cả các con dao ở mọi thể loại, bao gồm cả những con dao chưa tồn tại hoặc đã tồn tại và không bao giờ tồn tại – nhưng chúng ta sống có hạn nên chỉ có thể sử dụng từ ‘con dao’ trong hữu hạn các trường hợp mà thôi. Do đó, nếu ta sống lâu hơn, ta luôn luôn có thể tìm ra một cách sử dụng phù hợp của từ “con dao” đối với các vật thể như cái bút, hay cây gậy … thay vì một từ chỉ có một nghĩa. Link tại đây
-
29
Bài 29: Reasoning vs Logic
Khi tư duy về quy tắc (rules), các triết gia phân biệt giữa quy tắc cấu thành (constitutive rules) và quy tắc không cấu thành (non-constitutive rules) hay quy định (regulative rules). Quy tắc cấu thành là những quy tắc quyết định sự tồn tại của bản thân một loại hình hoạt động nhất định nào đó. Nếu không có quy tắc chơi cờ vua, thì bộ môn cờ vua không tồn tại. Một người có thể di chuyển một vật thể nào đó giống như một chiếc đầu ngựa qua những ô vuông đen trắng nhưng đó không phải là một nước đi trong môn cờ vua nếu như không có quy tắc cờ vua. Quy tắc không cấu thành thì ngược lại, điều chỉnh những hoạt động đã tồn tại từ trước. Ví dụ điển hình là các quy tắc xã giao như: chào hỏi nhau thế nào, xếp hàng ra sao, ăn uống trên bàn ăn thế nào cho lịch sự. Những hoạt động như chào hỏi, xếp hàng và ăn uống vẫn có thể tồn tại nếu không có quy tắc điều chỉnh.Thế còn quy tắc của việc tư duy tốt thuộc loại nào, cấu thành hay không cấu thành?Một số triết gia cho rằng câu trả lời là quy tắc cấu thành. Họ giải thích rằng, để được coi là có lý trí / biết suy nghĩ hợp lý (rational), một người phải biết tuân thủ những quy tắc hợp lệ của việc suy luận như modus ponens – A và [nếu A thì B], thì B – và modus tollens – không phải B và [nếu A, thì B], thì không phải A… Nếu ai đó không tuân theo những quy tắc như thế này, thì hoặc là người đó không chơi trò chơi lý trí (game of rationality), hoặc là cố gắng chơi nhưng lại thất bại trong việc tuân thủ quy tắc. Nhưng việc tuân thủ các quy tắc suy luận có đủ để quyết định rằng ai đó có đi một nước đi hợp lệ trong trò chơi lý trí hay không?Hãy theo dõi cuộc trò chuyện sau đây giữa Tý và Tèo. Tý đưa ra lập luận như sau đối với Tèo:[A] Hai cạnh của hình tam giác này cùng bằng với đoạn thẳng EF[B] Những thứ gì cùng bằng với một thứ trung gian khác thì bằng nhau.[Z] Hai cạnh của hình tam giác này bằng nhau.Dường như rất rõ ràng [Z] được suy ra khi có [A] và [B] nhưng Tèo từ chối chấp nhận lập luận này và nói chẳng có chỗ nào chỉ ra rằng [Z] phải được suy ra từ [A] và [B]. Rất khó chịu với sự ngang bướng của Tèo, Tý liền thêm vào tiền đề [C]:[C] – Nếu [A] và [B] đúng, thì [Z] phải đúngNhưng lại một lần nữa, Tèo từ chối chấp nhận [Z] và lập luận rằng chẳng có nơi nào bảo rằng phải suy ra [Z] từ [A], [B] và [C].Chưa nản lòng, Tý tiếp tục đưa thêm lập luận [D]:[D] – Nếu [A], [B] và [C] đúng thì [Z] phải đúngNhưng có thể đoán trước, Tèo lại không hài lòng và yêu cầu một tiền đề nữa để chỉ rõ rằng [Z] được rút ra từ [A], [B], [C] và [D]. Và câu chuyện cứ thế tiếp tục.Bạn có thể thấy rằng câu chuyện này sẽ kéo dài vô tận và Tý không thể nào làm hài lòng được Tèo.Tình huống trên nhằm chỉ cho chúng ta thấy quy tắc của suy luận không phải là thứ gì đó giống như câu điều kiện (mệnh đề C, D trong tình huống trên). Quay lại với sự phân biệt giữa phát biểu mệnh lệnh và phát biểu thuần mô tả ở bài 28, câu điều kiện là một phát biểu thuần mô tả để phản ánh sự thật về sự phụ thuộc của [Z] vào [A] và [B]. Vì mang tính thuần mô tả, nên câu điều kiện không cho chúng ta biết được điều chúng ta phải làm, trong khi đó, quy tắc lập luận diễn dịch dường như chỉ cho chúng ta phải suy ra [Z] từ cơ sở [A] và [B]. Nó mang tính mệnh lệnh. Nó cho ta biết phải hành động như thế nào, đó là rút ra kết luận [Z] bởi vì mệnh đề phủ định của [B] (not B) không thể đúng nếu như [A] đúng. Đến đó là đủ để biện minh cho suy luận của chúng ta và dừng sự hồi quy lại. Chúng ta có thể nghĩ được rất nhiều câu điều kiện như [C] và [D] nữa trong tình huống nêu trên, nhưng những phát biểu thuần mô tả thế này không cần thiết để biện minh cho sự suy luận của chúng ta.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
28
Bài 28: Bộ khung giải thích
Con người là những sinh vật có khả năng kể chuyện một cách tài ba. Chúng ta có thể dùng mọi cách để liên kết các thông tin mình có được để hiểu hơn về thế giới xung quanh ta, cả thế giới tự nhiên lẫn thế giới nhân văn.Dưới đây là một ví dụ. Hãy nhìn vào những nhóm từ này:Dòng sông – Con thuyền – Cô gáiCây bút – Mặt bànĐiện thoại – Bao thuốc lá – Người đàn ôngChậu nước – Con vịt – Đứa trẻ – Tiếng trống Thật khó để không liên kết nghĩa của các từ này này lại với nhau. Bộ óc của chúng ta ngay lập tức tìm ra cách để sâu chuỗi các từ này lại để tạo thành một câu chuyện, hay ý nghĩa nào đó phù hợp với những kinh nghiệm/tri thức của ta về thế giới. Bất kể bạn làm gì khi nhìn thấy những nhóm từ này, bạn sẽ gần như không thể chỉ nhìn chúng như những từ ngữ đơn lẻ. (Chẳng hạn, bạn có thể liên kết các nhóm từ trên hành các hình ảnh như: một cô gái trèo thuyền trên dòng sông, một cây bút đặt trên mặt bàn, người đàn ông vừa hút thuốc vừa sử dụng điện thoại, một đứa trẻ đang chơi đùa trong châu nước cùng với một con vịt đồ chơi có thể phát ra tiếng kêu như tiếng trống).Điều này cũng đúng khi chúng ta nhìn nhận các vật thể và sự kiện. Và điều này càng thú vị khi chúng ta bàn về các mối quan hệ nhân quả. Quan sát ảnh bên dưới, rất dễ giả định rằng những chữ sau đây được viết bởi ai đó sử dụng chiếc bút ở bên cạnh. Chúng ta không thể chắc chắn, nhưng đó là một giả định hợp lý.Tương tự nếu chúng ta nhìn vào 2 vật thể này. Rất dễ giả định rằng, tờ giấy bị cắt bởi chiếc kéo ngay bên cạnh.Nhưng sẽ thế nào nếu như ta biết thêm được một số vật thể ở xung quanh? Một trong những thành kiến của chúng ta là nghĩ rằng tất cả những gì tồn tại chỉ có bấy nhiêu đó như ta nhìn thấy, vì thế chúng ta dựng lên câu chuyện của mình chỉ dựa trên thông tin đầy thiếu sót đó. Khi có thêm càng nhiều dữ liệu, ta có thể đưa ra càng nhiều những lời giải thích tốt hơn. Sau đó, ta có thể cùng nhau tạo ra và kiểm định những bộ khung giải thích (explanatory framework) này, gọi chúng là các học thuyết (theories). Học thuyết nào mà cách giải thích của nó càng tương thích với những gì chúng ta đã biết từ trước về thế giới thì học thuyết đó càng có ích. Nếu như độ tương thích của hai học thuyết là như nhau, thông thường, các nhà khoa học sẽ chọn cái nào có cách giải thích đơn giản hơn. Việc loại bỏ bớt những sự phức tạp không cần thiết còn được biết đến với tên gọi Nguyên lý dao cạo Ockham.Mời các bạn xem những hình minh họa dưới đây để hiểu hơn về quá trình hình thành, kiểm định, chọn lọc và sử dụng các học thuyết khoa học:Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
27
Bài 27: ‘Oughts’ and ‘Is’-es
Ở bài 25, ta đã nhắc đến việc suy nghĩ hợp lý cần ít nhất là tuân theo những tiêu chuẩn hay quy tắc của việc tư duy tốt, và một người phải chịu trách nhiệm khi suy nghĩ hay hành động của họ không đi theo những tiêu chuẩn hay quy tắc (norms or rules) này. Nhưng như thế nào là một quy tắc và như thế nào là tuân thủ (hoặc cố gắng tuân thủ) một quy tắc?Câu hỏi này khó mà trả lời đầy đủ nhưng ít nhất ta có thể chỉ ra những khó khăn mà các triết gia gặp phải khi đề cập đến chúng. Những phát biểu về quy tắc cần mang tính mệnh lệnh (prescriptive): chúng chỉ ra chúng ta nên làm gì hoặc không nên làm gì (ought to do something or ought not to do something).Ví dụ: chúng ta không nên vượt đèn đỏ (we ought not to across against the red light), chúng ta nên tránh mắc lỗi ngụy biện bù nhìn rơm khi lý luận, chúng ta không nên gọi con chó là con mèo (hay ít nhất, đừng kì vọng nó sẽ là một con mèo), chúng ta nên công nhận kết quả là 6 nếu như lấy 2 nhân với 3, chúng ta nên sẵn sàng sửa đổi và giúp ai đó sửa lỗi.Những phát biểu này khác với những phát biểu thuần mô tả (descriptive). Ví dụ: ánh đèn màu đỏ (the light is red), con lừa là một loài động vật, 2 là một con số, người phụ nữ ở phòng kế bên bị khuyết tật. Nhưng chính xác là điều gì giúp ta phân biệt giữa các phát biểu mệnh lệnh và các phát biểu thuần mô tả? Những phát biểu mệnh lệnh bắt nguồn từ đâu?David Hume cho rằng những phát biểu mệnh lệnh như thế này không thể xuất phát từ những phát biểu thuần mô tả vì những phát biểu mệnh lệnh cho thấy những mối liên hệ mới không hề hiện hữu trong bất kì các tiền đề mô tả được nắm bắt nào.Hãy tưởng tượng lại tình huống trong bài 26, lúc bạn đang dừng đèn đỏ ở ngã tư. Có rất nhiều thứ mang tính thuần mô tả như: đèn giao thông phát sáng màu đỏ, ánh sáng này truyền trong không khí rồi tác động lên võng mạc, nhãn cầu, các dây thần kinh cảm quang dưới mắt của bạn. Tuy nhiên, không có bất kì điều gì trong số này kéo theo kết luận rằng chúng ta không nên vượt đèn đỏ, ngay cả khi bạn nghĩ thầm trong đầu rằng “Mình không nên vượt đèn đỏ”. Điều gì tạo nên tính mệnh lệnh (oughtiness) trong những phát biểu mệnh lệnh kia?Điều Hume muốn nhắc chúng ta rằng những phát biểu mệnh lệnh không thể được suy ra từ những phát biểu thuần mô tả. Đây là một chủ đề được bàn cãi gay gắt cả trong giới học giả của Hume và trong những cuộc tranh luận về bản chất tự nhiên của các giá trị pháp lý và đạo đức. Thực sự, những tiêu chuẩn và giá trị đạo đức có những nền tảng tự nhiên nào hay không vẫn là một câu hỏi mở. Có rất nhiều cách hiểu quan điểm ‘no-ought-from-an-is’ của Hume nhưng chúng ta sẽ không đi sâu trong bài viết này và cũng không kì vọng sẽ tìm ra câu trả lời rõ ràng cho một câu hỏi phức tạp như bản chất của các giá trị đạo đức. Nhưng nếu như Hume đúng, việc tuân thủ một quy tắc phụ thuộc vào việc chúng ta cảm thấy hoặc suy nghĩ thế nào, thì điều gì sẽ xảy ra đối với những quy tắc của việc tư duy tốt? Chúng cũng có cơ sở là cảm giác hoặc tình cảm (sentiment)? Nếu tôi không cảm thấy giống như bạn, thì có nghĩa lý gì khi kết luận ai đó lý luận tốt hơn những người khác, hay không ai trong chúng ta đúng? Có tồn tại một tập hợp lý lẽ (space of reasons) nào đúng cho tất cả?Bản thân Hume nghĩ rằng ông ta có thể giải quyết được vấn đề này. Ông phân biệt giữa đam mê (passions), thứ có xu hướng nảy sinh từ kinh nghiệm mà liên quan trực tiếp tới những niềm vui hạn hẹp và cụ thể, với cảm giác đạo đức (moral sentiments), thứ nảy sinh từ năng lực cảm thông tự nhiên của chúng ta. Bởi vì một thái độ cảm thông (sympathetic response) liên quan đến việc nhìn nhận một tình huống từ quan điểm của người khác và trải nghiệm một trạng thái cảm xúc tương tự đối với người đó, nó khiến chúng ta có được một cái nhìn phổ quát. Nó khiến chúng ta xem xét các sự việc theo một cách khách quan từ nhiều quan điểm khác nhau. Và độ thông cảm này càng giảm đi khi khoảng cách giữa 2 người càng lớn.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
26
Bài 26: Intersubjectivity, đoàn kết là sức mạnh!
Ở những bài học trước, chúng ta đã nhận thấy tri thức có nhiều vấn đề hơn chúng ta thường nghĩ. Không những khó để cắt nghĩa tri thức là gì, mà còn rất nhiều lý do để nghi ngờ những gì mà chúng ta nghĩ rằng mình biết về thế giới xung quanh.Chúng ta đã cố tìm những nền tảng cho tri thức của chúng ta bằng cách hướng về kinh nghiệm và cả những suy nghĩ nội tâm, nhưng vẫn có nhiều thứ phải hoài nghi. Bên cạnh đó, như chúng ta đã học, việc sử dụng lý luận quy nạp cũng không thể bảo đảm những gì chúng ta biết về thế giới khách quan là hoàn toàn chắc chắn.Trong những bài tiếp theo đây, chúng ta sẽ khám phá cách tri thức có thể được xác minh (verified) bởi cộng đồng như thế nào. Đó là việc có nhiều người cùng nhau làm việc thay vì từng cá nhân để giúp các phát biểu tri thức chắc chắn hơn.Việc cùng nhau xác minh ở đây không phải là xác minh những phát biểu mang tính chủ quan như “Món ăn ưa thích của chúng ta là kem” mà là những phát biểu ít tính chủ quan hơn, ví dụ: triều đại nhà Nguyễn có trước triều đại nhà Lê, hoặc chu kì giao động của con lắc phụ thuộc vào độ dài của nó. Dưới đây là một ví dụ đơn giản:Hãy nhìn bức ảnh trên. Nếu như tôi nói với bạn rằng, tôi cảm thấy những đường kẻ ngang trong bức hình trên không song song với nhau, thì không có gì phải bàn cãi vì đó là cảm giác chủ quan của tôi. Nhưng nếu tôi muốn khẳng định một cách phổ quát: những đường kẻ ngang (trong bức hình này) không song song với nhau, thì tôi có thể hỏi cảm nhận của những người khác. Nếu như có ai đó có cảm nhận giống tôi, tôi có thể tự tin hơn về phát biểu của mình. Nói một cách tổng quát, nếu ai đó có một trải nghiệm tương tự như những gì tôi đã trải nghiệm thì rất có thể đó chính là thực tại đang ẩn dấu bên trong.Việc xây dựng sự hiểu biết dựa trên những kinh nghiệm chủ quan tương tự nhau được gọi là INTERSUBJECTIVITY. Đây không phải là điều mới mẻ gì. Trong suốt lịch sử phát triển, loài người đã liên tục cách thức này để phát triển. Những người đi sau sử dụng những kiến thức đã được xác nhận (confirmed) bởi những người đi trước, rồi lại tiếp tục phát triển, cải tiến nó. Quy trình cứ thế lặp lại. Ví dụ, nếu ai đó phát hiện ra một loai thứ ăn nào đó có độc, hoặc một loại gỗ tốt để đóng bàn ghế thì điều này có thể được xác nhận bởi những người khác rồi sau đó mọi người có thể tham khảo sử dụng thông tin này.Một ví dụ nữa là cách sản xuất kim loai (luyện kim). Cách thức thực hiện được chia sẻ từ người nọ sang người kia, người sau xác minh, kiểm tra sai sót, rồi cải tiến quy trình và tiếp tục đến người tiếp theo.Bạn có thể áp dụng điều này để cải thiện khả năng tư duy phản biện của mình như thế nào? Dưới đây là những gợi ý dành cho bạn:Thử xem lập luận mình đưa ra có thuyết phục được người khác hay không. Nếu lập luận của bạn liên tục thất bại trong chuyện này, bạn nên xem lại lập luận của mình và không nên hành động dựa trên kết luận rút ra từ đó. Đồng thời, bạn cũng có thể nhờ người đó chỉ ra lỗi sai trong lập luận của mình.Nên tham khảo ý kiến của những chuyên gia. Chuyên gia là những người am hiểu kiến thức về một lĩnh vực nhất định nào đó. Nếu như có điều gì đó bạn không chắc chắn, sẽ rất đáng tin cậy nếu như bạn tham khảo ý kiến tư vấn của chuyên gia trong lĩnh vực đó. Bạn cũng có thể hỏi người chuyên gia đó xem họ thường tra cứu thông tin ở đâu để mình làm theo. Ngược lại, nếu như một cá nhân hay tổ chức nào đó liên tục đưa ra những thông tin, khẳng định sai lệch thì bạn không nên dựa vào những thông tin mà họ đưa ra nữa mà hãy tự tìm thông tin và rút ra kết luận cho riêng mình.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
25
Bài 25: Những nguyên tắc của việc tư duy tốt
Bạn đến một ngã tư có đèn tín hiệu. Đèn xanh chưa sáng nhưng lúc đó bạn thấy đường phố không một bóng người. Bạn nảy ra ý định vượt đèn đỏ và tự nhủ “chỉ một lần này thôi, mọi ngày mình không như vậy.”Nhưng bạn cảm thấy có một bàn tay vô hình kéo bạn lại. Câu nói “ĐỪNG VƯỢT ĐÈN ĐỎ!” lóe lên trong tâm thức khiến bạn chùn chân. Tất cả điều này có nghĩa là gì? Tại sao một thứ vô hình lại có một sức ảnh hưởng như vậy đến suy nghĩ và hành vi của chúng ta?Bên cạnh câu hỏi về việc một người có thể có quyền hoặc được biện minh khi phá vỡ một quy tắc nào đó, còn có những câu hỏi triết học thú vị và không dính dáng gì đến việc con người áp dụng quy luật như: thế nào là tuân thủ một quy luật . Câu hỏi thứ nhất thuộc khía cạnh đạo đức, vượt quá khuôn khổ nội dung của khóa học này. Vì vậy, chúng ta hãy bàn đến câu hỏi cuối cùng trước.Trong suốt lịch sử triết học, khả năng suy nghĩ hợp lý / lý trí (rationality) thường được cho rằng là khả năng riêng có của loài người. Tất cả các khả năng khác như: sử dụng các giác quan, tiêu hóa, sinh sản thì tất cả các loài vật khác đều có. Tuy nhiên, chỉ có con người là có thể BẬT CƯỜI, khả năng chỉ có được khi biết suy nghĩ hợp lý. Nếu bạn không thể hiểu được vì sao một mẩu chuyện cười lại gây cười, thì theo quan điểm này, bạn không phải con người!Hai khái niệm – khả năng suy nghĩ hợp lý và khả năng bật cười – có mối liên hệ thật sự thế nào là một câu hỏi hay (và mở). Nhưng nếu chúng ta chấp nhận rằng, chúng ta là một loại sinh vật sống theo các quy luật của tự nhiên hay quy luật của tư duy tốt, thì chính việc những câu truyện có mạch logic đi chệch khỏi hướng mà chúng ta kì vọng khiến chúng ta bật cười. Ví dụ, mỗi lần tôi gặp một chuyện gì đó không may, bạn thân của tôi lại động viên theo kiểu hài hước như sau: “Thoải mái lên, trong cái rủi có cái xui ấy mà!”Khóa học này được gọi là META vì một lý do. Chúng ta đã chứng kiến tầm quan trọng của việc tư duy về tư duy, điều gì tạo nên một lập luận tốt và việc suy nghĩ có thể bị lệch lạc bởi ngụy biện, thành kiến nhận thức, những quyết định vội vàng mang tính trực giác. Để trở thành một người biết suy nghĩ hợp lý, một trong những kĩ năng mà ta cần là khả năng ngẫm lại và xem xét kĩ lưỡng những suy nghĩ của chính mình. Mình đã nghĩ về vấn đề đó đủ rõ ràng chưa? Mình đã nghĩ đến những sự giải thích nào khác chưa? Những quyết định mình rút ra có được dựa trên các bằng chứng hoặc lý do xác đáng? Mình nên tìm kiếm thêm thông tin ở đâu để trả lời những câu hỏi của mình? Mình đã thử tìm những bằng chứng chống lại giả thiết của mình hay chưa?Khi chúng ta tự hỏi bản thân những câu hỏi thế này, chúng ta đang ở trong “space of reasons” (theo thuật ngữ của Wildred Sellar). Để có tư duy tốt, bạn cần học cách tuân thủ ít nhất 3 tiêu chuẩn cơ bản sau đây:Tiêu chuẩn về tính hợp lý: hình thành niềm tin dựa trên các bằng chứng xác đáng (ví dụ: dữ kiện có thực, lập luận tốt)Tiêu chuẩn về sự nhất quán: tư duy của bạn cần nhất quán với nhau, tránh kiểu hôm nay nghĩ một kiểu, hôm sau lại nghĩ kiểu khác.Nguyên tắc Charity: luôn luôn cố gắng hiểu lập luận của người khác một cách rõ ràng nhất có thể trước khi phản biện lại. (Thất bại trong việc này, bạn đã mắc phải lỗi ngụy biện bù nhìn rơm).Sống một cuộc sống với lý trí là luôn luôn khắc ghi những tiêu chuẩn này. Quay trở lại ví dụ về ngã tư ở phần đầu. Tôi hoàn toàn có thể qua ngã tư bằng cách vượt đèn đỏ, nhưng những hành động thế này có thể là một phần của cuộc sống có lý trí? Để trả lời, hãy đặt hành động của mình vào một bài test với những câu hỏi như sau:Tôi có thể biện minh những hành động thế này với người khác? Tôi có thể đề xuất hành động này như một tiêu chí hành động mang tính tổng quát – nghĩa là, bất kì ai cũng nên hành động như vậy nếu gặp tình huống như thế? Nếu không vượt qua được bài test như trên, thì những hành động này của tôi là thiếu lý trí. Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
24
Bài 24: Những cách tiếp cận vấn đề nhân quả khác Hume (Non-Humean)
Khi cố gắng giải thích mối quan hệ nhân quả, David Hume đã tiếp cận vấn đề theo hướng các sự kiện có sự nối tiếp nhau về mặt thời gian. Nhưng theo một số triết gia, các tiếp cận này gây ra nhiều vấn đề hơn là giải quyết được nó.Đây là một số ý kiến đi ngược lại với quan điểm của HumeMột số nguyên nhân tỏ ra không được thường xuyên (regular) hoặc không hoàn hảo. Chúng ta thường nghĩ rằng hút thuốc lá gây ung thư phổi nhưng không phải ai hút thuốc cũng bị ung thư phổi và không phải ai bị ung thư phổi cũng hút thuốc.Một số sự lặp lại dường như không phải là nguyên nhân. Mỗi lần một người hút thuốc, họ phải quẹt diêm (hoặc bật lửa), nhưng thật kì cục khi cho rằng việc đốt diêm là lý do gây ung thư.Một số sự liên tục rất khó để phân tách thứ tự trước sau về mặt thời gian. Chẳng hạn như áp suất không khí tăng và mức thủy ngân trong chiếc phong vũ biểu dâng lên, xuất hiện dường như đồng thời, và chúng ta vẫn nghĩ rằng sự kiện đầu tiên có mức tác động lớn hơn tới sự kiện thứ hai. Nhưng điều gì khiến Hume rút ra những kết luận thế này? Nếu không chỉ rõ được cái nào xảy ra trước cái nào, tại sao ta kết luận áp suất không khí khiến mức thủy ngân của phong vũ biểu tăng lên thay vì ngược lại, thủy ngân dâng lên khiến áp lực không khí tăng theo?Những quan điểm trái chiều với Hume được phân chia thành hai nhóm: Diff và Biff. Nhóm Diff quan tâm tới việc giải thích quan hệ nhân quả dựa trên chính khái niệm nhân quả mà con người thường sử dụng (còn được gọi là nhóm anti-foundational theories). Nhóm Biff thì lại dựa trên ý tưởng cho rằng, quan hệ nhân quả là một quá trình vật lý, có sự tương tác giữa các sự vật hiện tượng (còn được gọi là nhóm foundational theories). Cả hai đều tiếp cận theo hướng các sự kiện có sự nối tiếp nhau về mặt thời gian như thuyết của Hume.Thuyết Diff định nghĩa quan hệ nhân quả theo hướng cái gì khiến cái gì thay đổi. B phụ thuộc về mặt nhân (causally dependent) quả vào A nếu và chỉ nếu A mà đúng thì B sẽ đúng (if and only if were A to be the case, then B would be the case). David Lewis (1973) đề xuất rằng, cách tốt nhất để hiểu cách tiếp cận của thuyết Diff là tư duy theo hướng phản sự kiện (counterfactual dependence). Theo hướng này, A gây ra B (A causes B) nếu và chỉ nếu: A xảy ra thì B xảy ra và nếu A không xảy ra thì B cũng không xảy ra.Mọt điểm quan trọng cần lưu ý trong ý tưởng của Lewis là, nếu gọi hoàn cảnh/thế giới/môi trường (worlds) mà ở đó nếu A đúng thì B đúng là thế giới 1 và gọi hoàn cảnh/thế giới/môi trường (worlds) mà ở đó nếu A sai thì B sai là thế giới 2, thì thế giới 2 phải là hoàn cảnh/thế giới/môi trường tương tự/gần nhất/giống nhất với thế giới 1 nếu như muốn gọi A là nguyên nhân gây ra B. (Lewis construes difference making in terms, therefore, of what actually happens together with what happens in “nearby” (i.e., very similar) possible worlds. If and only if the possible worlds in which A is true and B is true are more similar to our world than the possible worlds in which A is true and B isn’t, then it is true that in our world A causes B.)Có nhiều thách thức được đặt ra đối với cách tiếp cận phản sự kiện của Lewis. Một trong số đó, là vấn đề ưu tiên (preemption) được nêu ra bởi Ned Hall (2004).Giả sử có hai nhóc đang chuẩn bị ném đá vào một cửa sổ. Suzy ném một viên và viên đá đó đập vào cửa, làm vỡ nó tan. Billy không ném nhưng cậu này cũng đã sẵn sàng mọi tư thế để ném nếu như Suzy không hành động.Giả sử bây giờ Suzy không ném, Billy sẽ ném và ném đủ mạnh để làm vỡ cửa sổ. Cách tiếp cận phản sự kiện gặp khó khăn ở đây bởi vì nếu suy luận theo hướng này sẽ trái ngược với trực giác của ta, đó là việc Suzy ném đá không phải là nguyên nhân gây vỡ cửa kính.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
23
Bài 23: Quan hệ nhân quả (cause and effect)
Hãy xem xét những tình huống thực tiễn sau đây:Một thằng nhóc ném một viên đá, viên đá đập vào cửa sổ và kính cửa sổ vỡ.Một đầu bếp thái hành và chảy nước mắtMột người làm vườn quên tưới nước cho cây, cái cây đó chết héo.Một cầu thủ bóng đá lỡ chạm tay vào bóng trong vòng 16m 50. Đội của anh nhận một quả phạt đền và bị thua chung cuộc với tỉ số 0-1 (bàn thắng được ghi từ quả phạt đền này).Đèn giao thông chuyển màu xanh, tài xế nhấc chân khỏi phanh, đạp ga, chiếc xe di chuyển về phía trước.Tất cả các tình huống này tuy rất khác nhau nhưng đều có một điểm chung: chúng ta có xu hướng hiểu chúng như những tình huống liên quan đến mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả (cause and effect).Chúng ta quan tâm đến quan hệ nhân quả bởi vì nó liên quan mật thiết đến những lời giải thích trong cuộc sống hàng ngày và việc đưa ra dự đoán. Mối liên hệ nhân quả giữa các sự vật hiện tượng chính là những gì mà các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu y học đang cố gắng khám phá.Khi chúng ta đưa ra các chính sách công hay điều luật nào đó, chúng ta đang giả định rằng những chính sách này sẽ có những tác động nhất định. Và bởi vì, để xác định được trách nhiệm, đạo đức hay nghĩa vụ pháp lý thì điều đầu tiên và trước hết phải chỉ rõ được ai gây ra cái gì đối với ai.Do đó, mối quan hệ nhân quả là một vấn đề trọng tâm trong quá trình khám phá tri thức của loài người. Triết gia David Hume đã chỉ ra, quan hệ nhân quả là một mối quan hệ không thể quan sát được. Chúng ta không quan sát được việc thứ này khiến thứ kia xảy ra như thế nào mà chỉ quan sát được sự lặp lại đều đặn giữa hai sự vật hiện tượng. Theo Hume, chính sự lặp lại này là đối tượng khiến tâm trí chúng ta suy ra mối quan hệ nhân quả. Chúng ta cho rằng, những mối quan hệ này là cần thiết (necessary), tức là nếu sự kiện mà chúng ta gọi là nguyên nhân tồn tại, thì sự kiện mà chúng ta gọi là kết quả phải xuất hiện theo sau. Nhưng hãy thử hỏi Hume, làm sao biết trong tự nhiên có những mối quan hệ nhân quả nào? Hume trả lời, những mối quan hệ chỉ là những thứ chúng ta tự đặt ra khi hình thành lên các học thuyết. Chúng ta không có bất kì 1 bằng chứng trực tiếp nào để khẳng định về mối quan hệ đó.Hume thậm chí còn phân tích sâu hơn để giải thích điều này. Ông cho rằng, mối quan hệ này không thể được biện minh (justified) bằng phương pháp diễn dịch hoặc quy nạp.Chúng ta thấy thanh sắt đỏ rực lên khi chúng ta nung nóng nó và kết luận rằng việc nhiệt độ cao khiến nó chuyển màu đỏ.Nhưng chẳng có một chút mâu thuẫn nào về mặt logic nếu như giả định rằng, một lần nào đó, nung nóng thanh sắt nhưng nó không đổi màu. Do đó, phát biểu nhân quả không có gì chắc chắn về mặt diễn dịch hoặc đúng về mặt ngữ nghĩa.Nhưng những phát biểu về nhân quả cũng không thể biện minh được theo cách quy nạp vì những lý do được nêu ra ở bài trước. Để biện minh theo lối quy nạp cho sự đúng đắn của mối quan hệ nhân quả, ta sẽ phải dựa vào giả định rằng thiên nhiên luôn vận hành ổn định, nhưng chính giả định này lại cần phải dựa trên một số phát biểu nhân quả nhất định. Do đó, chúng ta không thể hy vọng có thể biện minh cho những kết luận của chúng ta về mối quan hệ nhân quả bằng lý luận quy nạp.Ví dụ, kết luận nhiệt độ cao khiến thanh sắt chuyển màu đỏ vượt ra ngoài tầm quan sát của chúng ta bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc cho rằng nung nóng một thanh sắt (ở những điều kiện giống nhau) luôn luôn và cần thiết khiến nó nở ra, điều này ngầm giả định có sự vận hành ổn định của thiên nhiên. Nhưng như đã nói ở bài trước, giả định thiên nhiên vận hành ổn định cũng không thể chứng minh hay giải thích bằng quy nạp hay diễn dịch. Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
22
Bài 22: Vấn đề của phép quy nạp
Việc nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp quy nạp, cụ thể là khái quát hóa.Khái quát hóa có nhiều hình thức khác nhau, nhưng tựu chung lại nó có dạng như sau:Từ quan sát các trường hợp đơn lẻ đi đến kết luận chung. Ví dụ, mỗi con quạ mà tôi từng bắt gặp đều màu đen, do đó tất cả các con quạ đều màu đen.Từ quan sát tổng thể, đi đến kết luận từng trường hợp đơn lẻ. Tất cả những con quạ tôi từng thấy cho đến giờ đều màu đen, do đó, con quạ tiếp theo tôi gặp sẽ màu đenTừ các trường hợp đơn lẻ đến các trường hợp đơn lẻ, ví dụ: ông bà của những con quạ này màu đen, bố mẹ chúng cũng màu đen nên những con quạ này cũng màu đenĐây là lập luận bạn có thể đưa ra để ủng hộ cho việc sử dụng lập luận quy nạp:P1: Lý luận quy nạp đã tỏ ra hiệu quả trong quá khứP2: Các quy luật tự nhiên luôn ổn định, tương lai sẽ lặp lại quá khứ C: Quy nạp cung cấp một cơ sở lý luận tốt để rút ra các kết luận về tương lai Tất cả những trường hợp này đều có một sự giả định ngầm rằng, tự nhiên vận hành với một mức độ ổn định cao, tức là tương lai lặp lại giống quá khứ (nếu như có cùng những điều kiện nhất định, ví dụ: hôm qua mặt trời mọc đằng Đông, hôm nay cũng vậy, ngày mai vẫn thế). Thật khó tưởng tượng chúng ta có thể làm gì mà không có quy nạp. Chính quá trình hình thành và kiểm định giả thuyết cũng cần quy nạp. Mỗi lần một dược sĩ thử nghiệm một loại thuốc nào đó, quy nạp cũng góp mặt. Quy nạp cũng không thể thiếu được khi dự đoán kết quả từ các thí nghiệm và khi xây dựng một kho bằng chứng (bank of evidence).Diễn dịch (deduction) có vai trò của nó trong khoa học, nhưng theo Charles Sanders Peirce (1839–1914) , phương pháp này không có tính “khuếch đại kiến thức” theo cách mà phương pháp quy nạp làm được. Diễn dịch chỉ làm lộ ra sự thật đã tồn tại từ trước của các tiền đề. Còn quy nạp, ví dụ nếu ta kết luận điều đúng với một mẫu cũng đúng với cả tổng thể, thì chúng ta đã mở rộng kiến thức của mình.Một điều cần cẩn trọng khi dùng phương pháp quy nạp lỗi ngụy biện khái quát hóa vội vã. Các nhà khoa học cần đảm bảo mẫu nghiên cứu của họ đủ lớn và mang tính đại diện để không bỏ qua hoặc loại trừ bất kì thông tin liên quan nào khi đưa ra kết luận về tổng thể.Do đó, quy nạp là một một phần máu tủy của tư duy khoa học.Tuy nhiên, David Hume (1711–76) đã chỉ ra rằng, quy nạp dường như không thể biện minh(justify) được. Theo ông, nguyên lý (principle) nằm bên dưới phương pháp quy nạp – thiên nhiên luôn vận hành ổn định – không thể được mô tả theo kiểu diễn dịch hay quy nạp. Mọi thứ có thể đổi thay nhưng không tới mức thay đổi các quy luật của tự nhiên. Các vật nặng không thể đột ngột bay lên cao, thủy triều không thể cứ tiếp tục dâng cao mãi. Vì thế, nó không thể biện minh được bằng phương pháp diễn dịch. Nó không đúng về mặt định nghĩa cũng không thể quy giản về một khẳng định luôn đúng nào đó (ví dụ khẳng định: không có gì vừa đúng vừa sai) rằng tương lai sẽ vận hành tương tự như những lần trước đó trong quá khứ.Nhưng nguyên lý này cũng không thể biện minh được bằng quy nạp. Nếu ta cố gắng bảo vệ sự thật của nguyên lý này bằng việc sử dụng lý luận quy nạp – nếu ta nói lý luận quy nạp là hợp lệ bởi vì, trong quá khứ, lý luận quy nạp đã cho ta những kết quả đúng – thì chúng ta đang lập luận lòng vòng. Chúng ta chỉ có thể dựa vào chính nguyên lý của quy nạp để làm nền tảng sự thật cho chính nó mà thôi !Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
21
Bài 21: Chủ nghĩa phản thực
Bên cạnh những người tin vào khoa học, tin rằng khoa học có thể giúp tìm ra sự thật về những thực thể không quan sát được thì cũng có những người tỏ thái độ hoài nghi đối với khoa học. Những người này được gọi là anti-realist và quan điểm của họ được gọi là anti-realism.Những nghi ngờ mà những người anti-realist đưa ra chủ yếu tập trung vào khía cạnh dữ liệu của các học thuyết khoa học. Những nghi ngờ này phát xuất từ Duhem (1906) và sau đó là Quine (1953) khi họ quan sát thấy rằng những học thuyết cạnh tranh nhau (competing theories) thường chỉ đồng thuận với nhau ở những dữ liệu quan sát được, nhưng lại khác nhau khi đề cập đến những thực thể không quan sát được. Lấy ví dụ về việc thả đá rơi xuống đất. Có 2 học thuyết giải thích hiện tượng này: Aristotle nói là các vật có bản tính giống nhau thì hút nhau. Học thuyết của Newton lại giải thích bằng trọng lực. Cả bản tính và trọng lực đều vô hình. Và bằng chứng thì có thể ủng hộ cho cả 2 lý thuyết. Vậy thì chỉ dựa vào bằng chứng thôi là không đủ vì đôi khi dữ kiện ủng hộ 2, 3 hay thậm chí vô số lý thuyết khác nhau.Vì vậy, việc chọn học thuyết nào tối ưu nhất cần được dựa trên những đặc tính khác của học thuyết đó (Van Fraassen 1980). Có một số đặc tính thường được cân nhắc đó là: tính đơn giản (simplicity), sự tương thích (coherence) với các học thuyết đã thành không khác, sự nhất quán nội bộ (internal consistency), …Một người có thể lập luận theo tinh thần của chủ nghĩa hiện thực khoa học rằng, những đặc tính này không phải là không có liên hệ tới sự thật. Chúng chính là những đặc tính mà bạn sẽ kì vọng ở một học thuyết đích thực. Tuy nhiên, tính tương tính, tính đơn giản … là những đặc tính mang tính phương pháp; mối quan hệ của nó với sự thật là không rõ ràng nhưng các học thuyết vẫn cần chúng. Bởi vì một học thuyết tương thích cao hay thấp đến thế nào thì vẫn có thể bị chứng minh là sai.Tính đơn giản, thường được đề cập dưới cái tên “Nguyên lý dao cạo Ockham” (Ockham’s razor). Nguyên lý này cho rằng, nếu một vấn đề khoa học được giải thích bằng ít giả thuyết nhất thì sẽ đúng đắn nhất. Đọc thêm: Định luật dao cạo OckhamChủ nghĩa phản thực (anti-realism) thường được truy ngược về thời Carnap (1950), người đã lập luận rằng, trong khi có rất nhiều bộ khung giả thuyết khoa học khác nhau cho nhiều mục đích khác nhau, nhưng không có ai khẳng định được cái nào là đúng. Vì chủ nghĩa hiện thực cũng đa dạng, nên chủ nghĩa phản thực cũng có nhiều dạng. Có hai loại thuyết phản thực:Phản thực bản thể luận từ chối sự tồn tại của một thực tại khách quan độc lập với tâm trí như là đối tượng nghiên cứu của khoa học.Phản thực nhận thức luận nói rằng chúng ta không thể nhận thức thực tại khách quan bằng khoa học.(Bất kể có thực tại đó hay không) Quan điểm của chủ nghĩa phản thực thương thích với thuyết bất khả tri theo khía cạnh tri thức luận về việc có hay không tồn tại một thực tại độc lập với tâm trí. Tuy nhiên, chủ nghĩa phản thực thường xuyên có dạng của chủ nghĩa công cụ (instrumentalism).Chủ nghĩa công cụ cho rằng những thuật ngữ mà các học thuyết khoa học cố gắng sử dụng để mô tả các thực thể không quan sát được nói một cách khắt khe thì chẳng thể hiện được gì. Ví dụ, khi tôi nói đến một thứ gì đó như từ trường, tôi không cần thiết phải đề cập tới bất kì một cái gì thực tế nào. Tuy nhiên, những thuật ngữ này có một giá trị về mặt công cụ, để dự đoán thành công những hiện tượng khác. Tôi có thể dự đoán hành vi của các mạt sắt xung quanh một thanh nam châm dựa trên khái niệm từ trường như là một công cụ về mặt khái niệm.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
20
Bài 20: Chủ nghĩa hiện thực khoa học
Có lẽ nhiều người thừa nhận rằng, những học thuyết khoa học xuất sắc nhất đã hé mở nhiều bí ẩn của thế giới vật chất. Nhưng ở rất nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử, có những học thuyết bị chứng tỏ là sai hoặc ngây thơ (naive).Bên cạnh những học thuyết khoa học tốt, có sức mạnh dự đoán (predictive power) dài lâu thì cũng có những học thuyết khoa học thật ngắn ngủi. Như vậy, chúng ta có nên nhìn khoa học dưới một thái độ tri thức cẩn trọng hơn hay không?Chủ nghĩa hiện thực khoa họcViết tắt: SR = Scientific Realism = Chủ nghĩa hiện thực khoa họcSR có nhiều hình thức khác nhau, nhưng nhìn chung đó là quan điểm cho rằng thế giới chính là những gì mà các học thuyết khoa học xuất sắc nhất mô tả. Điều này liên quan đến việc chấp nhận sự tồn tại của không chỉ các thực thể quan sát được (observable entities) mà cả những thực thể không thể quan sát được (unobservable entities) dựa trên sự giải thích (của các học thuyết) về sự tương tác (interrelate) giữa hai đối tượng này. Những người theo quan điểm này chấp nhận cách giải thích của khoa học về những việc, chẳng hạn như, các tác động của những thực thể không quan sát được có thể được phát hiện bởi con người và tại sao những sự kiện quan sát được lại có thể làm manh mối tìm ra sự tồn tại của những thực thể không quan sát được này.Do đó, những người này thừa nhận, những gì chúng ta trải nghiệm và tư duy được từ việc khám phá tự nhiên sống động và đầy đủ hơn (richer) những gì giác quan chúng ta đem lại. Không chỉ có vậy, những người theo quan điểm này thật sự cho rằng những thực thể không quan sát được này là những đối tượng có thực, độc lập với tâm trí (mind-independent), và do đó cho rằng khoa học góp phần tìm ra sự thật (mặc dù có thể họ có thể thất bại trong việc đạt được sự thật).Lập luận mà những người này đưa ra thường dựa trên sự tham chiếu đến lời giải thích hợp lý nhất (best explaination). Sự giải thích hợp lý nhất cho sự thành công trong việc dự đoán của một học thuyết và sự giải thích hợp lý nhất cho thực tế là có tồn tại những bằng chứng bổ trợ cho những gì mà học thuyết đó kết luận.Sức mạnh dự đoán của một học thuyết cũng có thể là một sự may mắn tình cờ. Ví dụ, hình ảnh mạt sắt ở gần thanh nam châm có thể được giải thích hợp lý nhất là do có từ trường xung quanh.Chúng ta có thể nói rằng từ trường tồn tại mặc dù chúng ta chỉ có thể quan sát thấy ảnh hưởng của chúng, và không thể quan sát chúng trực tiếp.SR trái ngược với chủ nghĩa công cụ (instrumentalists), quan điểm cho rằng các thuật ngữ mà các học thuyết khoa học dùng để ám chỉ các thực thể không quan sát được, thẳng thắn mà nói, chẳng chứng tỏ được điều gì và cũng không thể được dùng để chứng tỏ bất kì điều gì.Dù sao, các học thuyết khoa học lại đã đóng góp giá trị về mặt công cụ vì chúng giúp chúng ta tổ chức dữ liệu và đưa ra các dự đoán về các hiện tượng quan sát được.Thách thức mà những người theo SR phải đối mặt đó chính là khi các học thuyết mà họ đưa ra bị lật ngược hoặc chứng tỏ là sai. Lịch sử đã cho thấy, điều này không phải là hiếm gặp.Một câu hỏi được đặt ra, tại sao chúng ta vẫn nên giữ một thái độ hiện thực (realist) đối với một học thuyết khoa học kể cả khi biết rằng nó có thể bị lật ngược hoặc sai lầm. Lâp luận này được đưa ra bởi Larry Laudan năm 1981 với tên gọi “Pessimistic Meta-Induction Arguement ”. Ông cho rằng chính vì chúng ta thiếu các bằng chứng quy nạp để chứng tỏ một học thuyết là đúng nên chúng ta không thể biện minh gì hơn khi chấp nhận bất kì lời giải thích nào của các học thuyết hiện hành. (Xem lại bài lập luận quy nạp, để một kết luận quy nạp chắc đúng 100%, thì lượng dữ liệu cần thu thập phải đạt mức tuyệt đối – điều này không thể làm được trong thực tế).Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
19
Bài 19: Hiểu về giác quan
Nếu nghĩ rằng thế giới quanh ta chỉ là một giấc mộng dài, hoặc tất cả bị điều khiển bởi một con quỷ đầy ma lực, thì đó chỉ là lo xa thái quá. Hằng ngày tôi vẫn thức dậy, tắm rửa, ăn sáng, bắt xe bus, tới văn phòng và bắt đầu làm việc. Mọi công đoạn, tôi đều phải dựa vào các giác quan (senses) của mình.Đa phần những công việc như vậy đều xảy ra một cách tự nhiên, không thật sự ý thức được tại sao. (Much of the sensory information we process is not accessible to consciousness) Tôi không biết điều gì thật sự xảy ra trong đầu khi tôi đưa tay và nắm lấy tay vịn trên xe bus. Tuy nhiên, những trải nghiệm mà chúng ta ý thức được (conscious experience) lại bị chi phối bởi các trải nghiệm thông qua giác quan(sensory experience), thứ mà một mặt thì không thể tránh khỏi, nhưng một mặt thì không thể thiếu cho nhiều quá trình hoạch định và đưa ra quyết định của chúng ta.Những trải nghiệm mà chúng ta ý thức được liên tục mách bảo chúng ta rằng, thế giới vật chất quanh ta có những quy luật cơ bản phải thừa nhận, và dựa vào nó chúng ta mới có thể lập kế hoạch và sống cuộc đời của mình.Thật khó để tượng tượng rằng những tri thức của chúng ta về thế giới vật chất không xuất phát thông qua các giác quan.Nếu không tin vào các giác quan, chúng ta cũng khó mà tin vào các thành tựu khoa học (khoa học là liên tục quan sát, rồi kiểm định các giả thuyết đưa ra). Các giác quan là cửa sổ duy nhất để chúng ta nhìn ra thế giới.Hai bài học quan trọng cần nắm rõ về giác quanNhưng cho dù chúng ta có không bị lay chuyển bởi những mối hoài nghi cổ điển về việc có hay không một thế giới khách quan ngoài tâm trí, có 2 bài học quan trọng được rút ra từ việc nghiên cứu chủ nghĩa hoài nghi:Thứ nhất, giác quan chỉ tiếp nhận những gì phù hợp với nó. Thị giác giúp chúng ta phân biệt màu sắc, hình dáng. Thính giác giúp ta lắng nghe những âm thanh, khứu giác giúp chúng ta phân biệt mùi vị, xúc giác giúp ta phân biệt các bề mặt (textures)… Điều này nghe có vẻ hiển nhiên, nhưng như chúng ta vừa phân tích vấn đề về bản thể, chúng ta có xu hướng đi từ cách thức sự vật xuất hiện (trong trường hợp này là một chuỗi những biến đổi về màu sắc, hình dáng..) tới kết luận rằng tồn tại những vật thể có sở hữu những tính chất bị biến đổi này.(Để hiểu rõ hơn ý này, hãy nhớ lại ví dụ về bức tượng David trong bài Bản thể, hoặc xem thêm 2 bức ảnh dưới đây)Mặc dù 2 công trình này khác nhau về màu sắc, nhưng bạn có nghĩ đây là hai công trình khác nhau?Nếu bạn nhìn thấy một chiếc bút chì thẳng, sau đó lại nhìn thấy một chiếc bị bẻ cong do nhúng một nửa trong nước, điều gì khiến tôi giả định rằng tôi vừa thấy một chiếc bút chì duy nhất thay vì 2 cái?Bài học thứ hai, cũng chính là những gì Decartes muốn dạy chúng ta. Công việc của các giác quan không phải là để dạy chúng ta cách thế giới vận hành. Nếu có, là vì chúng phải tiến hóa vì chúng là những cánh cửa giúp chúng ta giao tiếp với thế giới bên ngoài. Chức năng đầu tiên và trước hết của chúng là chức năng sinh học. Chúng giúp chúng ta phát hiện các vật thể (cỡ trung -middle-sized) ở môi trường xung quanh, ngửi mùi vị của thức ăn tươi sống hoặc thối rữa, lắng nghe tiếng bước chân của những con vật săn mồi. Khi thực hiện những chức năng này, giác quan không nhất thiết phải cung cấp những thông tin chính xác – một hệ thống sinh học có thể bao dung cho rất nhiều những sự “sai lầm tích cực”, tức là mặc dù sai nhưng có thể cứu mạng chúng ta.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
18
Bài 18: Suy luận loại suy
Loại suy (analogy – phép tương tự) là một công cụ mạnh mẽ của lý luận quy nạp. Khi loại suy, chúng ta tiến hành so sánh những điểm tương đồng quan trọng của 2 sự vật – hiện tượng để rút ra kết luận. Nếu áp dụng điều này trong việc lý luận, chúng ta đang dùng một thủ pháp gọi là loại suy quy nạp (inductive analogy).Đây là một ví dụ:P1 : Ngày nay, những con vật nào có răng sắc nhọn thường là loài ăn thịtRăng cá sấu, một loài bò sát ăn thịt (Ảnh minh họa.)P2 : Hộp sọ hóa thạch này có những chiếc răng sắc và nhọnC : Đây là hộp sọ của một loài động vật ăn thịtChúng ta vừa quan sát hai đặc điểm tương tự nhau, đó là răng của những loài động vật ăn thịt đang tồn tại hiện nay và răng trên một chiếc hộp sọ của một loài vật nào đó đã tuyệt chủng, rồi kết luận rằng, điều gì đúng với những động vật có hàm răng sắc nhọn hiện nay cũng đúng với loài vật đã tuyệt chủng này. Dĩ nhiên, không có gì ĐẢM BẢO ở đây cả, nhưng điều này có KHẢ NĂNG ĐÚNG CAO. Lý luận này mang tính quy nạp. Chúng ta đã chuyển đổi những kết luận từ một tình huống này sang một tình huống khác, dựa trên những đặc tính giống nhau.Một cách khái quát hơn, lập luận này có thể được viết như sau: P1 : A và B đều có chung những đặc tính X, Y và ZP2 : A có đặc tính W C : B cũng có đặc tính W Từ đây, chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay một hệ quả đó là nếu 2 sự vật – hiện tượng sử dụng trong khi loại suy càng có nhiều đặc tính giống nhau, thì khả năng giống nhau về những đặc tính khác càng cao. Nói ngắn gọn hơn, 2 sự vật – hiện tượng càng giống nhau, sự dụng phép loại suy càng có hiệu quả. Dưới đây là một số ví dụ về loại suy mà ta thường bắt gặp trong đời sống hằng ngàyCác nguyên tử giống như những hệ mặt trời thu nhỏ, và các electron giống như những hành tinh tí hon.Giống như các hộ gia đình, các quốc gia không nên chi tiêu nhiều hơn những gì họ kiếm được.Những người sử dụng smartphone hiện nay thật giống những con zombies, họ không có nhận thức gì về thế giới xung quanh họ.Tình yêu cũng giống như ly cà phê sữa, có cả cay đắng và ngọt ngào.Mỗi một ví dụ này đều có thể được sử dụng để hình thành nên một lập luậnMột phép loại suy tồi là phép loại suy sử dụng 2 sự vật – hiện tượng khác xa nhau để so sánh.Hãy xem xét ví dụ sau đây:Án tử hình giống như một ngọn hải đăng. Nếu như hải đăng giúp các con tàu tránh khỏi những vật cản trên biển thì án tử hình giúp ngăn chặn những tội ác nguy hiểm. Chúng ta không biết có bao nhiêu con tàu đã được những ngọn hải đăng cứu sống, vì vậy chúng ta cũng không thể biết được có bao nhiêu hành phi phạm tội nguy hiểm đã được ngăn chặn bởi án tử hình.Đây có thể coi là một phép loại suy tồi bởi vì một ngọn hải đăng và án tử hình có rất ít điểm chung. (Mặc dù vậy, không phải là không thể tạo ra một lập luận thuyết phục từ 2 sự vật này)Giờ đây, đã có bằng chứng chứng minh rằng án tử hình không có chút ảnh hưởng nào đến tỉ lệtội phạm nguy hiểm.Vì vậy, nếu phép loại suy nào sử dụng 2 sự vật – hiện tượng khác xa nhau thì lập luận dựa trên phép loại suy này sẽ có độ thuyết phục rất thấp.Làm như vậy tức là chúng ta đang mắc phải lỗi ngụy biện LOẠI SUY BỪA, như kiểu lấy táo đem ra so sánh với cam vậy.Cách tốt nhất để phản biện lại những lập luận loại suy bừa thế này là rút ra những kết luận kì cục từ chính phép loại suy đó. Ví dụ:A: Tao thấy thú cưng cũng giống như những đứa trẻ con vậy, chúng ta nên cho phép chúng leo lên giường.B: Nếu như vậy, chúng ta cũng nên dạy những con thú cưng học đọc, học viết hay cho chúng tiền tiêu vặt chứ?Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
17
Bài 17: Khái quát hóa
Khi chúng ta đi từ những quan sát sự vật – hiện tượng đơn lẻ đến những kết luận chung cho cả nhóm sự vật – hiện tượng đó, chúng ta đang khái quát hóaVí dụ, tôi thấy những con thiên nga tôi từng gặp đều có màu trắng, tôi có thể khái quát hóa đến kết luận rằng tất cả các con thiên nga đều màu trắng. Đây là một lập luận, tôi có thể viết nó ra dưới dạng như thế này :P1 : Tôi đã từng trông thấy rất nhiều con thiên nga và tất cả chúng đều màu trắng.C : Tất cả các con thiên nga đều màu trắngHay cụ thể hơn nữa, là thế này:Con thiên nga này màu trắng. Con này cũng màu trắng. Thêm một con màu trắng. Tiếp tục một con màu trắng nữa.Kết luận: Tất cả thiên nga đều màu trắngNgay lập tức bạn có thể đặt câu hỏi, tôi cần nhìn thấy bao nhiêu con thiên nga đủ để kết luận như trên. Xét theo khía cạnh của lập luận diễn dịch, câu trả lời của tôi là ‘tất cả’. Sự BẢO ĐẢM chắc chắn của lý luận diễn dịch vướng phải một vấn đề là chi phí cực lớn trong việc thu thập tất cả các thông tin. Do vậy, chúng ta cần phải chấp nhận việc thu thập một phần thông tin trong TẤT CẢ các trường hợp để rút ra những kết luận GẦN ĐÚNG. Và đó thường là trường hợp chúng ta khái quát hóa từ một mẫu đến toàn bộ tổng thể.Đó cũng chính là những gì chúng ta làm khi thực hiện khảo sát. Những điều tra viên gặp gỡ một nhóm người ngẫu nhiên (mẫu), hỏi họ một số câu hỏi cụ thể, sau đó khái quát hóa kết quả. Ví dụ, một công ty truyền thông hỏi ngẫu nhiên 100 người dân Anh về quan điểm của họ trong việc nước Anh rời khỏi liên minh châu Âu. Nếu 20% trong số này trả lời rằng họ muốn nước Anh ở lại, công ty truyền thông kia có thể kết luận rằng 20% người dân Anh không đồng tình với Brexit và muốn nước Anh ở lại. Đây còn được gọi là khái quát hóa theo tỉ lệ.Cách tăng độ chính xác khi khái quátHãy quay trở lại ví dụ về thiên nga phía trên. Kết luận rằng tất cả các con thiên nga đều màu đen chỉ có vẻ hợp lý nhưng không chắc chắn 100%. Chúng ta có thể thay đổi điều gì để kết luận này trở nên chắc chắn hơn ?Có hai điều bạncó thể làm đó là :Tăng kích thước của mẫuTăng độ đa dạng của các cá thể trong mẫu.Tăng kích thước của mẫu thì dễ hiểu rồi. Càng thấy nhiều con thiên nga, chúng ta càng tự tin hơn vào kết luận rằng tất cả các con thiên nga đều màu đen.Còn tăng độ đa dạng của các cá thể trong mẫu là thế nào ?Sự đa dạng giữa các cá thể thiên nga có thể bao gồm những sự khác biệt về các tiêu chí như độ tuổi, giới tính, vị trí địa lý hoặc thời điểm trong năm.Nếu chúng ta bắt gặp những con thiên nga khác nhau ở một loạt các tiêu chí như trên, và tất cả chúng đều màu trắng, chúng ta sẽ tự tin hơn khi kết luận rằng tất cả các con thiên nga màu trắng.Các lỗi thường gặp khi khái quátTrong đời sống hằng ngày, có rất nhiều lập luận được đưa ra dựa trên sự khái quát hóa. Bất kì khi nào bạn nghe thấy ai đó phát biểu một điều gì đó đúng trong tất cả các trường hợp, đó là một sự khái quát hóa.Ví dụ, các phát biểu sau đây đều dựa trên sự khái quát hóa:Pitbull là một loài chó hung dữTrên đời này, không có ai cho không ai cái gìNhững người đàn ông không biết lo cho gia đình thì không phải là người đàn ông thật sựKhông có gì quý hơn độc lập tự doNhững người thành công đều học đại họcTriết gia là những con người tuyệt vờiMỗi phát biểu trên đây đều là một sự khái quát hóa. Điểm chung của tất cả các phát biểu trên là người phát biểu đều khẳng định kết luận của mình luôn đúng trong mọi trường hợp.Chúng ta có 2 cách để kiểm tra một sự khái quát hoát là tốt hay không, đó là dựa trên kích thước mẫu và độ đa dạng của các cá thể trong mẫu. Chúng ta cần đặc biệt cẩn thận khi sử dụng phép khái quáthóa nếu chúng ta muốn những phát biểu của mình được mọi người tin.Có hai lỗi chúng ta thường gặp khi khái quát hóa.Khái quát hóa vội vàng (khi kích thước mẫu quá nhỏ)Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
16
Bài 16: Lập luận quy nạp
Chúng ta đã được biết đến những lập luận có chứa các tiền đề và kết luận ở bài 1. Chúng ta cũng được biết rằng, nếu các kết luận được suy ra một cách logic từ các tiên đề thì lập luận đó là hợp lệ. Khái niệm HỢP LỆ, chỉ thật sự xuất hiện khi có một sự ĐẢM BẢO khi rút ra kết luận từ các tiên đề. Những lập luận kiểu này được gọi là lập luận diễn dịch.Hãy cùng nhau nhìn lại một ví dụ:P1: Tất cả những loài động vật có vú đều có lôngP2: Mèo là loài động vật có vú.C: Mèo có lôngChúng ta có thể thấy, nếu hai tiền đề là đúng thì việc đưa ra kết luận như trên được đảm bảo một cách chắc chắn.Nhưng không phải tất cả các lập luận đều hoạt động theo cáchnày. Hãy theo dõi lập luận sau đây:P1: Cứ mỗi lần tôi ăn trứng vịt và tỏi sống, hôm sau tôi đều đau bụng.P2: Tôi vừa ăn trứng vịt và tỏi sống (rau muống chấm mắm tỏi).C: Ngày mai, tôi sẽ bị đau bụng.Kết luận rằng ngày mai tôi sẽ bị đau bụng dường như có khả năng xảy ra tương đối cao nhưng không chắc 100%. Tôi có thể không sao cả. Nhưng không vì vậy mà chúng ta gọi kiểu lập luận này là thiếu logic, chỉ là độ chắc chắn của những kết luận trong kiểu lập luận này kém hơn so với kiểu lập luận diễn dịch.Những lập luận mà kết luận nghe có vẻ hợp lý nhưng lại không chắc chắn 100% được gọi là các lập luận quy nạp (inductive arguements).Những lập luận này được sử dụng rất nhiều trong quá trình con người khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh. Chúng ta thường đưa ra những suy luận về bản chất của sự vật hiện tượng dựa trên những kinh nghiệm chúng ta từng trải qua. Mặc dù những kinh nghiệm của chúng ta có thể đáng tin cậy trong phần lớn trường hợp, nhưng chúng không phải là một sự đảm bảo chắc chắn.Một lập luận kiểu diễn dịch mà hợp lý là lập luận có độ thuyết phục cao nhất vì kết luận luôn được đảm bảo chắc chắn bởi tính đúng đắn của các tiên đề. Lập luận quy nạp với những tiên đề đúng cũng thuyết phục, nhưng ở nhiều mức độ khác nhau.Chúng ta thường sử dụng lập luận quy nạp theo hai cách: khái quát hóa và phép tương tự.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
15
Bài 15: Bản thể cá nhân (personal identity)
Vấn đề bản thể có ý nghĩa đặc biệt với con người là bởi con người không chỉ là những sinh vật sống tầm thường mà còn có nhiều đặc tính về tâm lý và tâm sinh lý khó có thể định nghĩa bằng đặc điểm vật lý đơn thuần.Ta có thể xem mỗi con người là một cá nhân có một quan điểm nhất định về thế giới, có mong muốn và khát vọng, có lịch sử riêng hàm chứa trong kí ức của anh ta, đồng thời có những xu hướng hành động và phản ứng nhất định đối với người khác cũng như thế giới xung quanh. Mỗi cá nhân cũng có khả năng đưa ra các quyết định lý tính và đạo đức mà vì đó anh ta có thể được ngợi khen, bị đổ lỗi và chịu trách nhiệm tương ứng. Qủa là khó, dù không hẳn là không thể để thực sự hiểu bản chất cách chúng ta xem người khác như những cá nhân riêng biệt. Qủa là khó để giải mã xu hướng thực hành hay bất tuân đạo đức của những cá nhân đó trừ phi con người cũng giữ các đặc tính theo thời gian như đồ vật. Và do đó, mỗi cá nhân là người như thế nào và điều gì đảm bảo tính liên tục của cá nhân đó theo thời gian vẫn luôn là những câu hỏi triết học quan trọng.Những tiêu chí xác định bản thểKhi chúng ta cố gắng trả lời câu hỏi xem ta là loại người như thế nào, ta thường nghĩ về tính cách. Khi nghĩ về tính cách, ta thường nghĩ đến suy nghĩ, những niềm tin sâu sắc, ao ước, khát vọng hay việc làm trong quá khứ của ta. Tôi là loại người nào? Tôi đã làm hay đạt được những gì? Ta cố kiếm tìm bằng chứng từ những hành vi và kinh nghiệm trong quá khứ để củng cố đánh giá về tính cách, mà trong quá trình đó thì kí ức đóng một vai trò then chốt.Vì tôi nhớ mình đã nói hỗn với giáo viên và gặp rắc rối hồi lớp 5 mà tôi có ý thức về bản thân mình bao gồm những kinh nghiệm của thời lớp 5 đó. Kí ức cho tôi quyền truy cập vào 1 dạng bản thể tồn tại trước đó mà không gì khác có thể. Vai trò tiên quyết của kí ức trong việc hình thành ý thức về bản thân chúng ta qua thời gian đã khiến một số triết gia quả quyết kí ức là “tiêu chí” quyết định bản thể cá nhân theo thời gian.“Tiêu chí kí ức” về bản thể cá nhân qua thời gian được cho là do triết gia John Locke (1632-1704) khởi xướng. Tạm thời ta chưa bàn đến chính khác John Locke nghĩ gì ở đây. Locke đã từng viết rằng con người là “một sinh vật thông minh, có suy tư và lý trí, có thể tự coi mình là chính mình, một sinh vật có cùng dạng suy nghĩ ở nhiều thời điểm và địa điểm khác nhau” (Locke 1975: 335). Nói cách khác, con người là một sinh vật thông minh, có khả năng tự nhận thức được sự liên tục qua không gian và thời gian của chính mình.Thật khó để nhận thấy làm thế nào một người có thể đạt được tất cả những điều đó mà không nhờ kí ức. Về căn bản thì kí ức là một hiện tượng mang tính thời điểm nên nó dường như là một tiêu chí rất tốt để duy trì sự bền bỉ theo thời gian. Trên hết, kí ức là thứ liên kết tôi với quá khứ của mình. Bởi vì tôi chỉ nhớ được kinh nghiệm quá khứ của mình, dường như theo một cách tự nhiên thì sẽ hình thành một bản ngã bền bỉ mà những kí ức cuộc sống truy lại được.Hiện tượng kí ức sai lệch, nếu quả có thực, sẽ đặt ra câu hỏi về độ tin cậy của việc lấy kí ức làm tiêu chí cho bản thể cá nhân. Cái gọi lại “kí ức sai lệch” không thực sự là kí ức mà là những trạng thái tâm lý khác – chẳng hạn – suy nghĩ và niềm tin – hàm chứa trong đối tượng và bắt chước kí ức thật. Song dù sao đi nữa, độ tin cậy sẽ luôn là một vấn đề vì kí ức về bản chất khó mà tin cậy được. Kí ức có nhiều khả năng hàm chứa những chi tiết mơ hồ. Tuy nhiên, kí ức vẫn là bằng chứng tốt nhất mà ta có để xác định tính liên tục của cá nhân.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
14
Bài 14: Danh tính (identity)
Bạn còn nhớ từ giấy chứng minh thư (CMT) tiếng Anh gọi là gì chứ? Đó là: Identification Card hay ID Card. CMT là thứ giúp phân biệt mỗi cá nhân với những người khác, hay nói cách khác, nó giúp định danh bạn là ai trong số tất cả những con người trên thế giới này.Từ đó bạn có thể hình dung, vấn đề được bàn đến trong bài này, mang nghĩa là xác định cái danh tính, cái để giúp phân biệt đối tượng này với đối tượng khác.Có nhiều cách để dịch thuật ngữ này: danh tính, bản thể hoặc sự đồng nhất. Trong bài này, tôi sử dụng đan xen cả 3 cách dịch trên.Thảo luận về sự đồng nhất (identitity) là một sự thảo luận lạ lùng. Các tuyên bố có dạng A đồng nhất (identical) với B dường như ngụ ý rằng giữa A và B có một vài mối liên hệ, và từ chính mối liên hệ đó, ta suy ra A và B là những thứ tách biệt (distinct things). Nhưng điều này không thể đúng, bởi vì nếu A và B đồng nhất với nhau thì A và B không phải 2 thứ tách biệt. Nếu tôi nói rằng Batman đồng nhất với Bruce Wayne (Danh tính bí mật của Người dơi là Bruce Wayne, một tỷ phú người Mỹ, một tay chơi, một nhà công nghiệp, một nhà từ thiện và là chủ sở hữu của Wayne Enterprises), tôi không định nói có 2 thứ tách biệt là Batman và Bruce Wayne và giữa chúng có một mối liên hệ. Chỉ có một người đàn ông ở đây với một vài món đồ rất ngầu.Đôi lúc, các triết gia hay diễn tả sự đồng nhất một cách hài hước theo lối lập luận vòng tròn: Mọi vật là những gì nó là và không phải là một thứ khác( Everything is what it is and not another thing). Rõ ràng, một vật chỉ “không là một thứ khác” nếu như vật đó đã đồng nhất với chính nó. Theo một số triết gia, lập luận này không hề luẩn quẩn mà chỉ đơn giản là một dấu hiệu cho thấy sự đồng nhất sẽ không có vấn đề gì phải bàn cãi nữa vì bất kì thứ gì đều ít nhất đồng nhất với chính nó. Như đã nói, tư duy về sự đồng nhất có thể rất phức tạp. Chúng ta không thể làm ngơ vấn đề này vì nó đóng một vai trò quan trọng trong việc tư duy về những sự thay đổi tự nhiên (natural change) và mối quan hệ giữa các sự vật, bao gồm cả bản thân chúng ta và thời gian. Có phải mọi sự vật vẫn là chính nó khi thời gian trôi đi, ví dụ chiếc điện thoại bạn đang dùng ở thời điểm hiện tại, ngày hôm qua và ngày mai (nếu có thể) có phải là một, hay thế giới là một dòng chảy không ngừng, không có gì tồn tại quá một khoảnh khắc? Khi triết gia Hy Lạp Cổ Đại, Heraclitus, nhận xét rằng không ai tắm hai lần trên một dòng sông, dường như ông đã nghĩ rằng sự tồn tại của các vật thể đơn giản chỉ là một mắt xích trong một chuỗi những biến chuyển vĩ đại.Ở một cấp độ phân tích, những vấn đề phát sinh với bản thể cá nhân chỉ là một trường hợp đặc biệt trong những vấn đề bản thể nói chung: có phải mỗi người chỉ là thể xác của họ, có phải mỗi người là một thứ gì đó bất biến dù thời gian trôi khiến các bộ phận trên cơ thể có sự thay đổi là những câu hỏi có hình thức tương tự như câu hỏi liên quan đến mối quan hệ giữa một khối đá và bức tượng được tạc ra từ khối đá đó. Ở một cấp độ khác, những vấn đề phát sinh với bản thể cá nhân liên quan tới chính khái niệm “con người” và như thế nào được coi là một con người.Những đặc tính nào sau đây định hình cách chúng ta tư duy về bản thể cá nhân: con người – một sinh vật có lý trí, biết lập kế hoạch, tương tác với những những thứ xung quanh, tự chủ và biết chịu trách nhiệm đạo đức? Làm sao chúng ta có thể lập kế hoạch cho tương lai hay bắt một ai đó chịu trách nhiệm cho những gì họ đã gây ra trong quá khứ nếu như chúng ta không thể giải thích được mỗi chúng ta là một người và vẫn là chính người đó qua thời gian? Các triết gia đã bàn đến vấn đề bản thể này từ rất rất lâu, nhưng đây là một khái niệm làm nền tảng giúp chúng ta tư duy về bản thân chúng ta như là những sinh vật có lý trí và đạo đức.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
13
Bài 13: Khoa học của tâm trí
Đã bao giờ bạn thử phóng trí tưởng tượng của mình đến một viễn cảnh mà tâm trí không ảnh hưởng chút nào đến thể xác? Và làm sao tâm trí có thể kiểm soát xác thịt khi nó không có cơ bắp, hay thậm chí còn không cầm nắm được? Trong bài học này ta hãy cùng luyện tập các cách tư duy về vấn đề này.Khoa học tâm trí Một người ủng hộ thuyết nhị nguyên (dualism) không có nghĩa là người đó cho rằng không thu được kết quả gì từ việc nghiên cứu não bộ. Ngay cả Descartes, một người nhị nguyên nổi bật, sau những sự phản biện cũng phải đồng ý rằng: tâm trí và thể xác dù độc lập nhưng chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau theo một cách nào đó như một thể thống nhất. Như vậy, tâm trí có thể tác động lên thể xác và điều khiển thể xác, cũng như ở vế nghịch lại, thể xác gửi tới những tín hiệu về sinh lý và yêu cầu tâm trí hợp tác giải quyết với nó. Và để hiểu được bản chất con người, theo Descartes, cần phải hiểu được những mối tương quan về thân thể và ý nghĩ, và hoạt động Tâm – Thể ấy được tích hợp theo từng chức năng như thế nào. Ông cho rằng để hiểu được bản thể toàn bộ, hay là sự thống nhất giữa tâm trí và thể xác thì những gì chúng ta học được từ giải phẫu sinh lý cũng cần thiết như những gì chúng ta nhìn nhận được từ nội tâm ta. Dù giải phẫu không hẳn một ngành nghiên cứu tâm trí, nhưng rõ ràng khoa học và khoa học giải phẫu nói riêng có liên quan đến tìm hiểu tâm trí con người trong mối quan hệ tự nhiên giữa những ý nghĩ và vật chất cấu thành. Với những người theo thuyết nhị nguyên tương tác (interactionist dualism), không thể vì cho Tâm – Thể độc lập mà chối bỏ vị trí trung tâm của khoa học khỏi việc trở thành trung tâm trong các giải thích về tâm trí. Ngược lại, có một trường phái được gọi là thuyết nhị nguyên đặc tính (property dualism) hay còn được biết tới dưới tên epiphenomenalism, thì những người này cho rằng: các đặc tính thần kinh tách biệt với các đặc tính vật lý và vì vậy hai loại đặc tính này không tương tác với nhau. Chúng ta có thể có một ví dụ rõ nét hơn khi thâm nhập vào suy nghĩ những người này là: nếu tôi nhảy lên khi dẫm vào một con sên thì phản xạ nhảy tránh ấy là bởi những dây thần kinh bàn chân ở vùng tiếp xúc khiến tôi nhảy lên chứ không phải ý nghĩ về một cơn đau khiến tôi nhảy lên. Sự đau đớn khi dẫm lên một con sên chỉ là những gì tôi trải nghiệm thôi, và những trải nghiệm này thường không cần thiết nếu không muốn nói là dư thừa cho việc tôi nhảy lên.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
12
Bài 12: Tâm trí và Thể xác
Ở bài này chúng ta sẽ đi sâu và làm rõ thêm lập luận của triết gia Descartes khi ông từng phát biểu thể xác và tâm trí là hai thứ hoàn toàn tách biệt. Và nếu tư duy và tâm trí tách biệt như những gì Descartes đã nói thì quan hệ giữa chúng là gì, hệ quả nào sẽ được suy ra từ chúng. Tất cả những chương mục trong bài này sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi ấy.Descartes cho rằng: chúng ta có thể biết được chúng ta đang suy nghĩ và tồn tại ngay cả khi ta không biết có sự tồn tại của một thể xác hay cả thế giới khách quan bên ngoài. Do đó không ngạc nhiên khi Descartes suy ra tâm trí là một điều hoàn toàn có thể nhận biết được mà không cần phụ thuộc vào sự tồn tại của thể xác, cũng như kết luận “tôi” là cần thiết để đại diện cho đối tượng đang suy nghĩ. Và đối tượng đang suy nghĩ ấy ngoài nghĩ ra có thể khát vọng, nghi ngờ, cảm nhận, phán đoán, hay có bất cứ động thái nào liên quan đến quá trình tư duy. Và trong chương cuối cùng của tác phẩm Meditations, ông đã khẳng định lại lần nữa: tâm trí không phải thứ đồng nhất với thể xác!P1: Nếu A có thể được mường tượng một cách rõ ràng và tách biệt với B thì A có thể tồn tại bên ngoài B.P2: Nếu A có thể tồn tại ngoài B thì A, B độc lập.P3: Tôi có thể mường tượng tâm trí của mình một cách rõ ràng và tách biệt với thể xác.C: Suy ra, tâm trí và thể xác tôi độc lập.Ghi chú: lập luận này được gọi là “Real distinction arguement” tạm dịch là “Lập luận tách biệt sự thật”. Và để tránh sự dài dòng không cần thiết, tôi tạm quy ước nó là lập luận RD.Cốt lõi của lập luận RD là sự độc lập hoàn toàn về hai khái niệm ý tưởng về tâm trí và ý tưởng về thể xác. Nó bao gồm quá trình suy diễn sau:Giai đoạn 1: Nếu tâm trí của tôi có thể được mường tượng một cách rõ rằng và tách biệt với thể xác thì tâm trí của tôi có thể tồn tại bên ngoài thể xác và ngược lại.Giai đoạn 2: Nếu tâm trí tôi có thể tồn tại bên ngoài thể xác tôi (và ngược lại) thì tâm trí và thể xác của tôi là hai điều (hay chất) thật sự độc lập.Vấn đề tương tác Tâm – Thể (Mind-Body Problem)Nếu chúng ta tạm coi tiền đề này là một lập luận hợp lý, nghĩa là tất cả các tiền đề đều đúng thì, một câu hỏi kỳ quặc sẽ được thốt ra: “nếu tâm trí tôi không phải thể xác tôi, vậy nó là cái khỉ gì?”. Chẳng lẽ tâm trí là một thực thể phi vật chất và ma mị? Và nếu tâm thể độc lập thì làm sao chúng tạo ra mối tương tác bền chặt, nhân quả lẫn nhau trong suốt thời gian qua? Nói một cách dễ hiểu hơn, làm sao khi tâm trí tôi ra một quyết định hành động và thể xác phục tùng nó khi hai khái niệm này đang được cho là độc lập?Và vấn đề trên đã được biết đến với tên gọi vấn đề tương tác (interaction problem). Nó được nêu ra đầu tiên bởi công nương Elizabeth xứ Bohemia (1596 – 1662), bà đồng thời là một trong số những triết gia nữ lưu sớm nhất được vinh danh.Nội dung phản biện của Elizabeth thật thú vị và bà đã đánh trúng vào vấn đề cốt lõi mà Descartes nói riêng và ngành khoa học nhận thức thời bấy giờ nói chung cần tìm lời giải.Elizabeth yêu cầu Descartes giải thích cách tâm trí truyền đạt tới thể xác, cũng đặt ra câu hỏi phải chăng đã có một đoạn mã nào được phát đi, tiếp nhận, giải nghĩa để chúng ta có thể hành động. Và nếu thế chẳng phải ta hiển nhiên suy ra rằng thân xác ta cũng là một thực thể biết suy nghĩ, giải đáp hay sao?Tóm lại, nếu dùng những thuật ngữ và hình ảnh hiện đại, chúng ta có thể viết lại ý của Elizabeth như sau: Elizabeth đang phân vân, với bà, nếu thể xác là một cỗ máy như Descartes nói thì những hoạt động của nó dựa trên việc nó nhận sự chỉ huy và có thể xử lý các mệnh lệnh chỉ huy đó thừ phần mền (ở đây là tâm trí). Vậy nếu thể xác có thể nhận tin và xử lý, vậy hẳn cỗ máy này không phải một cỗ máy vô hồn và tự nó cũng sở hữu một phần mền với những tri thức được lưu giữ ở mức độ nào đó. Và có nghĩa, nó cũng suy nghĩ!Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
11
Bài 11: Tôi tư duy nên tôi tồn tại
Bạn có biết một vài câu nói tưởng như đơn giản và ngắn gọn lại có sức lay động sâu sắc đến nền triết học cũng như rất nhiều ngành khoa học liên quan khác trên toàn thế giới? Ở đây, câu nói “tôi tư duy nên tôi tồn tại” của Descartes là một trong những câu nói như vậy. Qua bài học này chúng ta sẽ hiểu được tại sao câu nói súc tích ấy lại có tầm ảnh hưởng và nổi tiếng đến vậy, cũng như cách để hiểu được ý nghĩa của nó.Nội dung tổng quátNhư chúng ta đã biết ở phần 1: Tri thức là gì, thì đã có nhiều triết gia nêu lên những cách tiếp cận khác nhau để cố gắng định nghĩa hai từ “tri thức”. Cũng kèm theo những nỗ lực ấy là sự nảy sinh của hiện tượng hồi quy vô tận và những thách thức được đặt ra bởi chủ nghĩa hoài nghi là: có một nhóm niềm tin đặc biệt nào có thể tự biện minh mà không yêu cầu ở chúng ta việc đó?Các triết gia như Descartes và Augustine nghiêng về cách định nghĩa tri thức theo chủ nghĩa nội liên kết. Cụ thể, họ cho rằng chúng ta có thể nhận biết tính đúng đắn của một niềm tin ngay từ chính bản thân chúng ta. Hơn nữa những niềm tin này đóng vai trò làm tiêu chuẩn cho tất cả những niềm tin khác, bao gồm những niềm tin có khả năng đúng cao nhất.Chúng ta có thể tìm được tiêu trí của sự thật và biện minh ngay từ việc xem xét ý tưởng hay suy nghĩ xuất phát từ chúng ta. Hãy nhớ lại lời phản biện của Augustine với chủ nghĩa hoài nghi học viện: “thật ngớ ngẩn khi cho rằng có một số khẳng định thì giống thật hơn những khẳng định khác khi chúng ta chưa biết rõ sự thật là gì”.Đối với Augustine và Descartes, thì những hiểu biết về bản thể (self) là thứ sẽ cung cấp cho chúng ta những tiêu chuẩn của sự thật và loại bỏ được những tồn nghi.Chính nhờ việc tìm tòi trong sự tự phản biện và tự suy ngẫm mà tự nhiên chúng ta sẽ được dẫn dắt đến câu hỏi “tư duy là gì?” hay “bản chất của việc tư duy là gì?”. Về vấn đề này, Descartes đã có một hướng tiếp cận nổi tiếng là: chúng ta có thể trực tiếp tư duy và cảm nhận được sự tồn tại mà không cần đến thể xác. Hay nói cách khác, triết gia này cho rằng: tâm trí và thể xác là hai sự vật tồn tại độc lập.Đứng trên lập trường của nhị nguyên luận, Descartes nhận định thể xác và tâm trí là hai khía cạnh tồn tại độc lập. Ngoài ra, ông cũng đưa ra một gợi ý rằng chúng ta không thể tìm tòi hay khám phá được gì từ các nghiên cứu về khoa học tâm trí (nghĩa là khoa học về nhận thức hay khoa học về hành vi là vô nghĩa), bởi theo lời nhận định trên, thể xác tách biệt tâm trí và dường như không thể dùng thể xác để đào sâu về tâm trí được.Tuy nhiên, theo chính suy nghĩ của chúng ta cũng như sự biện minh ở các bài sau ta sẽ thấy lời khẳng định trên là không đúng. Dù vậy, đồng tình hay là không thì những khẳng định đứng trên lập trường thuyết nhị nguyên của Descartes vẫn có ảnh hưởng lớn đến những cuộc tranh luận về bản chất và chức năng của tâm trí, cũng như những tranh luận về trí thông minh của động vật hay máy móc.Quay trở lại với câu nói “cogito ergo sum”, một số người khi nhắc đến câu nói nổi tiếng này đã bổ sung thêm một vế phía trước: “dubito ergo cogito ergo sum”, dịch nghĩa: “I doubt therefore I think therefore I am” trong tiếng Anh và dịch ra tiếng Việt: “tôi nghi ngờ, tôi tư duy, tôi tồn tại”. Và dù chúng ta biết đến nhiều với cách nói “tôi tư duy tôi tồn tại” thì trong khuôn khổ bài học này chúng tôi sẽ dùng từ “suy nghĩ” (think) thay cho “tư duy” để gần hơn với nguyên bản. Ngoài ra, để bài viết không trở nên rườm rà và đánh đố bằng các cụm khái niệm, tôi sẽ gọi tắt lập luận “tôi tư duy, tôi tồn tại” là cogito.Lưu ý, đây là một trong những bài học trọng điểm của khóa học, nếu các bạn không thể lĩnh hội nó ngay trong lần đọc đầu tiên, hãy cố gắng đọc lại hoặc nghiền ngẫm cho đến khi thật hiểu. Tôi tin rằng, một khi các bạn đã nắm được mấu chốt vấn đề này, một điều kỳ diệu sẽ xảy ra trong tư duy của bạn.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
10
Bài 10: Ngụy biện thành phần và tổng thể
Khi chúng ta thảo luận về các chủ đề như bản chất của tâm trí, cái khả biến… một số kiểu ngụy biện theo đó sẽ xuất hiện. Ở bài này, hãy thử lướt qua một số phép ngụy biện ấy để tránh việc bị mắc phải.Ngụy biện tổng thể Đây là một kiểu ngụy biện sử dụng cái đúng của từng phần đơn lẻ để suy ra cái đúng của tổng thể. Sau đây một số ví dụ sẽ giúp bạn dễ dàng hình dung hơn:Ví dụ 1: Mỗi chương trong cuốn sách này đều có sự đóng góp của những cây viết xuất sắc nhất thế giới, vì vậy đây là cuốn sách xuất sắc nhất mọi thời đại.Ví dụ 2: Mỗi cầu thủ trong đội bóng này đề là những ngôi sao xuất chúng, vì vậy đội bóng ấy là đội bóng xuất sắc nhất thế giới.Ảnh minh họa (Nguồn: Getty Images)Ví dụ 3: Mọi thứ trong vũ trụ này đều có nguyên nhân cho sự tồn tại của chúng. Không có cái gì tự nhiên sinh ra trước mắt chúng ta cả. Ví như cái ghế chúng ta ngồi phải được một người thợ làm ra, laptop chúng ta đang dùng phải được lắp ráp ở một nhà máy nào đó. Cốc cafe ta đang uống phải được pha chế từ một người nào đó. Vì vậy, tôi kết luận rằng vũ trụ rộng lớn ngoài kia cũng có một nguyên nhân cho việc tồn tại.Ngụy biện thành phầnTrái với ngụy biện tổng thể, ngụy biện thành phần xuất hiện khi ta cho rằng nếu một điều gì đó đúng với tổng thể thì cũng đúng cho mỗi thành phần của nó. Sau đây là ví dụ:Ví dụ 1: đây là chiếc bàn gỗ, suy ra mọi thành phần tạo nên nó đều bằng gỗ.Ví dụ 2: Nước Mỹ là đất nước giàu có nhất thế giới nên mọi công dân Mỹ đều là người giàu có hơn công dân những nước còn lại.Ví dụ 3: Đại học Queenland có khoa Triết học được xếp hạng hàng đầu thế giới, vì vậy những giảng viên trong khoa này cũng đều là những nhà triết học nổi tiếng nhất thế giới.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
9
Bài 9: Điều kiện cần và đủ
Chắc hẳn nhiều người đã từng nghe đến khái niệm này ở bộ môn Toán. Đây chỉ là một cách nói ngắn gọn, đầy đủ phải gồm 3 loại: điều kiện cần, điều kiện đủ & điều kiện cần và đủ. Những khái niệm này cũng đóng vai trò rất quan trọng trong lý luận triết học. Chúng ta hãy tìm hiểu chúng trước khi áp dụng nó vào việc phân tích các lập luận triết học quan trọng.Khái niệm điều kiện cần, điều kiện đủ, điều kiện cần và đủHãy nghĩ đến hai khái niệm “động vật có vú” và “mèo”. Khái niệm “động vật có vú” mang nghĩa tổng quát hơn khái niệm “mèo” khi “động vật có vú” có thể bao gồm mèo, chó, dê, cừu, hổ, báo… Còn “mèo” thì chỉ là mèo.Vì vậy.– Động vật có vú là điều kiện cần để trở thành mèo. Bởi nếu chỉ có duy nhất Động vật có vú chúng ta sẽ dễ nhầm lẫn con vật chúng ta đang cần phân tích sang những loại khác như dê, cừu, hổ báo… Bên cạnh đó, một con vật muốn được nhìn nhận là mèo thì nó phải sở hữu nhiều đặc tính của loài mèo như: thuộc họ mèo, chân có móng vuốt, kêu ngoeo ngoeo…– Tuy nhiên, Mèo lại là điều kiện đủ để trở thành động vật có vú. Bởi khi một con vật được cho là Mèo thì nó nghiễm nhiên là động vật có vú mà không cần xét thêm bất cứ điều kiện nào khác.– Suy ra, với bất kỳ “mèo” nào ta cũng đều có “động vật có vú” nhưng không phải với bất kỳ “động vật có vú nào” ta cũng có mèo. Một cách khái quát:A là điều kiện cần của B nếu bất cứ khi nào có B thì có A nhưng không phải lúc nào có A cũng có B.A là điều kiện đủ của B nếu bất cứ khi nào ta có A thì có B nhưng không phải với bất kỳ B ta đều được A. Vậy còn điều kiện cần và đủ? Liệu có khi nào một sự vật vừa là điều kiện cần vừa là điều kiện đủ hay không? Câu trả lời là CÓ. Điều đó xảy ra khi ta suy luận hai chiều sự vật vẫn đáp ứng đủ những điều kiện cần và đủ của nó.A là điều kiện cần và đủ của B nếu bất kỳ A nào ta cũng có B và bất kì B nào cũng có A.Áp dụng vào vấn đề Tâm trí và Thể xácNếu ta nói Tâm trí là điều kiện cần của Thể xác thì với bất kỳ thể xác nào ta cũng có Tâm trí nhưng không phải bất cứ Tâm trí nào ta cũng có Thể xác.Nếu nói Tâm trí là điều kiện đủ của thể xác thì với bất kỳ Tâm trí nào ta cũng có Thể xác tuy nhiên không phải bất cứ thể xác nào cũng có Tâm trí.Nếu nói Tâm trí là điều kiện cần và đủ của Thể xác thì với mỗi một Tâm trí ta có một Thể xác và mỗi một Thể xác ta cũng có một Tâm trí tương tự.Hãy chú ý điều này vì chúng ta sẽ áp dụng điều này để phản biện lập luận cogito nổi tiếng của Descartes.Bài tập về điều kiện cần và đủHãy điền một trong ba từ điều kiện cần, điều kiện đủ, điều kiện cần và đủ vào những câu sau đây:1, Oxy là … để có lửa.2, Trên 18 tuổi là … để được cấp bằng lái xe.3, Biển báo dừng là … để bắt buộc xe dừng.4, Khói là … để có lửa.5, Học triết học là … để rèn luyện tư duy.6, Lửa là … để có khói.7, Có bằng Đại học Y khoa là … để trở thành bác sĩ.8, Là thanh niên chưa lập gia đình là … để trở thành cử nhân.9, Tổng các chữ số chia hết cho 3 là … để số đó chia hết cho 3.10, Chia hết cho 2 và chia hết cho 3 là … để một số chia hết cho 6.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
8
Bài 8: Câu điều kiện và Ngụy biện suy diễn
Đây là bài đầu tiên trong chuỗi những bài học thuộc phần 2: Tâm trí và thể xác. Trước khi đi vào hai đề mục nêu trên chúng ta sẽ làm quen một chút với các khái niệm quan trọng được nhắc đến nhiều lần trong phần này, đầu tiên là: câu điều kiện.Khái niệm câu điều kiệnChúng ta có thể hiểu đơn giản rằng câu điều kiện là loại câu dùng diễn tả hai vế: Giả thiết – Hệ quả.Đây là một loại câu vô cùng quan trọng trong việc lập luận khi nó được sử dụng rộng rãi trong lý luận triết học và khoa học.Với những người đã từng học tiếng anh chắc hẳn các bạn đã từng nghe đến phần kiến thức ngữ pháp về câu điều kiện. Và mặc dù có 4 loại câu điều kiện cơ bản nhưng trong khóa học này chúng ta chỉ quan tâm đến một loại duy nhất:Câu điều kiện loại 1Mệnh đề giả thiết (Antecendent) + Mệnh đề hệ quả (Consequent)Ở đây, mệnh đề giả thuyết thường bắt đầu bằng “nếu”, “nếu như”, “nếu mà”.Mệnh đề hệ quả thường bắt đầu bằng “thì”, hoặc chỉ xuất hiện mệnh đề không.Ví dụ:Nếu trời có bão to thì tôi được nghỉ học.Nếu có nhiều tiền tôi sẽ đi du lịch vòng quanh thế giới.Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng. Từ các ví dụ trên, hẳn bạn đang cảm thấy câu điều kiện thì khá đơn giản phải không? Tuy nhiên hãy cẩn thận khi chính sự đơn giản này có thể dẫn đến những lỗi ngụy biện mà chúng ta rất hay mắc phải. Hãy theo dõi những lỗi lầm ấy trong phần tiếp theo sau đây.Hai loại ngụy biện suy diễn thường gặp với câu điều kiệnHai lỗi cơ bản thường đi kèm với câu điều kiện đó là: xác nhận hệ quả và phủ nhận giả thuyết. Để sự nhìn nhận được chính xác, hãy theo dõi những ví dụ dưới đây:Câu gốcXác nhận hệ quảPhủ nhận giả thiết1Nếu tôi mà lấy cô ấy thì bây giờ tôi đã hạnh phúc rồiBây giờ tôi đang hạnh phúc, vì vậy tôi đã lấy cô ấyTôi không lấy cô ấy, vì vậy tôi không hạnh phúc2Nếu trở thành hoa hậu, em sẽ đi du lịch khắp mọi nơi để ai ai cũng được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của emEm được đi du lịch khắp mọi nơi, vì vậy em là hoa hậuEm không trở thành hoa hậu, vì vậy em không thể đi du lịch thế giới3Nếu trời mưa to thì tôi sẽ bị ướtTôi bị ướt, vì vậy trời mưaTrời không mưa, vì vậy tôi không bị ướt4Nếu tôi được sinh ra trong gia đình giàu có thì tôi đã không phải nghèo khổ.Tôi không phải sống nghèo khổ, vì vậy tôi được sinh ra ở một gia đình giàu cóTôi được sinh ra trong gia đình nghèo, vì vậy tôi phải sống cuộc đời nghèo khó5Nếu chiến tranh nổ ra, tôi sẽ là người xung phong đầu tiên đi tham chiếnTôi xung phong đi tham chiến đầu tiên, vì thế chiến tranh nổ raChiến tranh khôngnổ ra, vì vậy tôi không xung phong đầu tiên đi tham chiến6Nếu hết năm nay mà tôi không trả được hết nợ, tôi sẽ tự tửTôi đã tự tử, vì vậy mà tôi không trả được hết nợTôi trả được hết nợ, vì vậy tôi không tự tử7Nếu trúng xổ số, tôi sẽ xây một căn nhà toTôi đã xây một căn nhà to, vì vậy tôi đã trúng xổ sốTôi không trúng số nên tôi không thể xây một căn nhà to8Nếu trời bão to thì tôi sẽ được nghỉ họcTôi được nghỉ học vì vậy mà trời có bão toVì trời không có bão to nên tôi cũng không được nghỉ học9Nếu tôi đỗ đại học, bố mẹ tôi sẽ thưởng cho tôi một chiếc xe máyTôi được thưởng một chiếc xe máy, vì vậy tôi đỗ đại họcTôi không đỗ đại học, vì thế nên tôi không được bố mẹ thưởng xe máy10Nếu tôi có nhiều tiền thì tôi sẽ đi du lịch vòng quanh thế giớiTôi được đi du lịch vòng quanh thế giới, vì vậy tôi có nhiều tiềnVì tôi không có nhiều tiền nên tôi không thể đi du lịch vòng quanh thế giớiMời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
7
Bài 7: Chủ nghĩa hoài nghi ngày nay
Chủ nghĩa hoài nghi ngày nay tồn tại như một đe dọa mà các nhà triết gia phải học cách sống chung với nó. Một số triết gia trong những năm gần đây đã phát triển một hướng tiếp cận gọi là “tiếp cận theo ngữ cảnh” (contextualist) để ứng phó với chủ nghĩa hoài nghi.Theo hướng này khi chúng ta không thể đáp ứng những tiêu chuẩn quá cao của chủ nghĩa hoài nghi trong việc định nghĩa tri thức ở ngữ cảnh triết học thì khi ta cần sử dụng “tri thức” theo nghĩa thông thường của nó, chúng ta sẽ có tiêu chí khác để phán định ai đó có tri thức một cách đúng đắn hay là không. Ví như câu hỏi: chiếc bàn này phẳng hay không? Sẽ có những câu trả lời khác nhau dựa theo ngữ cảnh của cuộc đàm thoại thông thường hay đang trong một tiết học vật lý. Tương tự như vậy, nếu hỏi rằng: một người có thể biết mình có tay hay không? cũng sẽ có câu trả lời dựa theo ngữ cảnh triết học hay thông thường.Hãy nhớ lại tiêu chuẩn khắt khe của chủ nghĩa hoài nghi đối với tri thức: để được coi là hiểu biết một điều gì đó đúng thì một người phải loại bỏ mọi khả năng sai sót của vấn đề ấy.Năm 1996, David Lewwis đưa ra một hướng lập luận trung gian như sau: chúng ta vẫn chấp nhận định nghĩa về việc có được tri thức đúng là nó phải loại bỏ mọi khả năng sai, tuy nhiên, mọi khả năng sai này phải tùy từng ngữ cảnh.Ví như khi tôi nói: “mọi người hãy chia sẻ trang web này với những người mà bạn cho là hữu ích” thì mọi người ở đây của tôi không phải tất cả những người đang tồn tại trên thế giới mà chỉ giới hạn hẹp trong số những người đọc trang web của tôi mà thôi.Tương tự vậy, việc loại bỏ mọi khả năng sai sót vì có một ngữ cảnh nhất định không đòi hỏi bạn phải đánh bại được con quỷ dối lừa với quyền năng vô hạn hoặc cũng không cần chứng minh rằng bộ não chúng ta không nằm trong thùng.Ở đây, tôi sẽ kết lại vấn đề bằng việc mượn một ví dụ của chủ nghĩa khắc kỷ: hãy nghĩ mọi chuyện giản đơn, hãy làm đủ sáng căn phòng để phân được đó là một sợi dây hay một con rắn!What’s next?Chúng ta sẽ kết thúc phần 1 của khóa học ngay tại bài này (dù thực ra vẫn còn 1 link bài tập nữa). Ở phần 2, chúng ta sẽ hướng ánh mắt đã đượm vị triết học của chúng ta đến những khám phá thú vị về cái tôi bản thể (the self) như: chúng ta biết gì về bản thân mình hoặc người khác? Điều gì tạo nên sự độc đáo có tính duy nhất của mỗi người trên thế giới này? Và chúng ta có gì về tâm trí và thể xác thông qua việc dò xét kỹ lưỡng những ý nghĩ của ta qua phương pháp triết học?Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
6
Bài 6: Chủ nghĩa hoài nghi
Ở những bài trước chúng ta đã tìm hiểu các cách tiếp cận khác nhau để định nghĩa tri thức theo mô hình JTB cùng những vấn đề phát sinh giữa những người theo chủ nghĩa nội liên kết, ngoại liên kết và chủ nghĩa thực dụng. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu về một hướng tiếp cận tri thức khác đó là một hướng tiếp cận hoài nghi, hay còn được biết đến với cái tên hoài nghi chủ nghĩa.Chủ nghĩa hoài nghi (scepticism)Với những người theo thuyết ngoại liên kết, họ cho rằng nhận thức của các cơ quan con người là có thể tin cậy được và là nguồn phát sinh những nhận thức đúng.Những người ngoại liên kết cũng tin nhận thức của chúng ta đáng tin cậy là bởi giữa thực tế và niềm tin của chúng ta có mối liên hệ nhân quả, và dù thỉnh thoảng chúng có dẫn đến một vài kết quả nhầm lẫn thì trong phần lớn trường hợp chúng đã mang lại những niềm tin đúng đắn cho chúng ta. Sự tiến bộ không ngừng của văn minh nhân loại cũng không nằm ngoài minh chứng cho điều ấy.Chủ nghĩa hoài nghi (scepticism) là một hướng tiếp cận của triết học, mà trong đó, những mọi tri thức nền tảng hay bất cứ một khẳng định nào cũng đều được người theo thuyết này hồ nghi, xem xét.Chủ nghĩa hoài nghi xuất hiện từ rất sớm và dưới nhiều hình thức trong lịch sử triết học. Một trong những yếu tố phổ biến để phân biệt các hình thức hoài nghi là dựa vào độ rộng của quan điểm được hoài nghi.Ví dụ, Copernicus nghi ngờ về thuyết địa tâm (một quan điểm cho rằng trái đất đứng yên và là trung tâm vũ trụ). Tuy nhiên, ông lại không nghi ngờ chuyện có tồn tại một vũ trụ bên ngoài trái đất. Nên dù vấn đề ông đặt ra mang tầm trái đất và các tinh tú, thì độ rộng trong sự hoài nghi của Copernicus chỉ được xếp vào hàng hoài nghi cục bộ (local scepticism).Một dạng hoài nghi khác khi tầm bao phủ của nó có độ rộng lớn hơn, phủ trùm thế giới bên ngoài (external world). Nói một cách cụ thể thì theo chủ nghĩa này: liệu những giác quan hay lý trí của chúng ta có thể giúp chúng ta có được những phán đoán đúng đắn về thế giới hay không, hoặc thậm chí là thế giới khách quan có tồn tại hay không? Đây chính là tư tưởng cốt lõi trong thời kỳ Hellen cổ đại. Còn đối với những ai hoài nghi cả năng lực của lý trí trong việc cung cấp cho chúng ta tri thức (trong trường hợp các giác quan của chúng ta không thể) thì lúc này mức độ hoài nghi đã đạt đến ngưỡng cao nhất, phổ quát (global in its scope). Tức lúc này con người sẽ hoài nghi tất thảy, không chừa một quan niệm nào hết và thậm chí hoài nghi ngay cả những thứ như khái niệm toán học hay chính bản thân ý nghĩa của sự hoài nghi (ta sẽ thấy điều này ngược với quan điểm của Decartes và hoài nghi Descartes trong những bài tiếp theo ở phần 2).Ngoài ra cũng có một dạng hoài nghi mà giới hạn cho độ phủ của nó chỉ ở mức độ lý thuyết (ví dụ như sự hoài nghi của Descartes), trong khi đó một số khác lại mở rộng độ phủ ra tới thực tiễn cuộc sống. Và hai định mức trên được coi là điểm giúp ta phân biệt được cách tiếp cận của chủ nghĩa hoài nghi, đó là: chủ nghĩa hoài nghi được tiếp cận trong lĩnh vực học thuật và chủ nghĩa hoài nghi tiếp cận trong cuộc sống thường ngày. Điển hình của lối tiếp cận chủ nghĩa hoài nghi thứ hai (hay còn gọi là tiếp cận hoài nghi bằng cuộc sống) được khởi phát từ nhà hiền triết Pyrrhon và trường phái của ông còn được gọi là triết học khắc kỷ (stoic). Mục đích của trường phái triết học này là đạt được “sự bình yên trong tâm thức” (apaxia).Chủ nghĩa hoài nghi cổ đạiNhư đã đề cập trong bài trước, những người cố tìm cách định nghĩa tri thức theo mô hình JTB đã gặp phải tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Bởi để biết về một điều gì đó ta bắt buộc phải nắm được định nghĩa của nó. Để nắm được định nghĩa của nó, ta phải biết hết những thuật ngữ có trong đó, và để biết được những thuật ngữ có trong đó ta phải đào sâu thêm những thuật ngữ của chính những thuật ngữ có trong đó… Ồ, thế là vòng hồi quy bất tất kéo đến khiến ta mãi mãi không thể biết được một điều gì cả.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
5
Bài 5: Lập luận lòng vòng
Lập luận vòng tròn là điều chúng ta bắt gặp khi cố gắng loại bỏ yếu tố may mắn ra khỏi quá trình định nghĩa tri thức theo JTB. Lập luận vòng tròn xuất hiện khi một người cố gắng bảo vệ nguồn kiến thức biện minh cho mình mà không dựa vào nguồn kiến thức đó trong cả quá trình biện minh.Ví dụ, khi bảo vệ quan điểm rằng sự nhận thức, trực giác và trí nhớ là những nguồn đáng tin cậy để sản sinh ra những niềm tin đúng trong hầu hết các trường hợp, thì chúng ta cũng vô tình giả định niềm tin dựa trên sự nhận thức, trực giác và trí nhớ là đúng, và chúng là nguồn đáng tin cậy để đạt được hiểu biết (Alston).Tôi có thể nói rằng sự cảm nhận của chúng ta là một nguồn đang tin cậy cho những niềm tin mà chúng ta thu thập được trong suốt quá trình sống từ quá khứ, nó đã giúp ta sản sinh ra những niềm tin đứng đắn. Tuy nhiên theo William Alston, khi chấp nhận những khẳng định về kinh nghiệm của bản thân mình cũng đồng nghĩa tôi giả định rằng sự nhận thức của tôi là một nguồn đáng tin cậy.Đó, đó chính là cái vòng luẩn quẩn!Ngoài ra, vấn đề này còn kéo theo hệ lụy nghiêm trọng khác, là khi chúng ta gặp khó khăn trong việc bảo vệ quan điểm nhận thức là một nguồn tin cậy để ta có niềm tin đúng đắn về thế giới thì ta cũng sẽ gặp khó khăn trong việc bảo vệ quan điểm lý luận là một nguồn tin cậy để giữ gìn sự thật. Bởi để bảo vệ bất kỳ lời khẳng định nào, bao gồm cả khẳng định vừa nêu ra, chúng ta đều phải lý luận.Những vấn đề phát sinh kèm theo lập luận vòng tròn để định nghĩa về tri thức có thể khiến bạn băn khoăn liệu chúng ta có thể có được tri thức hay không? Markus Lammenranta cùng một số nhà triết học khác (như Thomas Reid) cho rằng, chúng ta phải giả định một kiến thức cơ bản nào đó là nguồn đáng tin cậy cho những niềm tin của chúng ta. Nói cách khác, những nguồn đáng tin cậy này trong đa số trường hợp là nền tảng để ta tạo dựng nên những hiểu biết khác. Và chúng ta không thể biện minh tính đúng đắn của những nhận thức thông thường này bằng việc dẫn ra vài trường hợp nào đó hay mổ xẻ chúng thành những cái cơ bản hơn. Chính cái nhận thức thông thường là cái cho chúng ta biết điều gì là đúng – ví dụ như có một thế giới tồn tại bên ngoài tâm trí chúng ta chẳng hạn – là kiến thức không thể nghi ngờ được.Ludwig Wittgenstein cũng bảo vệ một quan điểm tương tự. Ông cho rằng, trong mỗi một lĩnh vực tri thức, phải có những khẳng định cơ bản nhất định mà chúng ta chấp nhận để nó dẫn chúng ta mở ra cánh cửa đến với tri thức.Thoạt nghe, tất cả những phát biểu nêu trên giống với thuyết duy bản luận. Tuy nhiên, nó mang hướng thực dụng hơn duy bản luận (những niềm tin tự chúng có thể biện minh cho mình). Những người theo Chủ nghĩa thực dụng giữ quan điểm rằng sự thật của một khẳng định (proposition) sẽ được đo lường bởi thành công của nó trong thực tiễn (practice) khi ta áp dụng nó. Bởi thực tế mà nói, chúng ta không thể bước tiếp trên con đường đạt đến tri thức nếu chúng ta không chấp nhận một số niềm tin nền tảng mà không cần phải nghi vấn gì thêm.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
4
Bài 4: Định nghĩa "tri thức" - những cách tiếp cận khác
Trong bài sự hồi quy vô tận, chúng ta dừng lại ở Duy bản luận. Và hẳn bạn vẫn chưa quên những người theo Duy bản luận luôn luôn ngăn chặn sự biện minh lại cũng như thuyết phục chúng ta rằng những gì họ tin chính là nền tảng và không thể đào sâu hơn được nữa. Tuy nhiên, cách tiếp cận ấy hẳn nhiên gây ra nhiều tranh cãi. Hơn hết, nó vẫn chưa phải cách thức duy nhất để định nghĩa về tri thức.Vấn đề JTBViệc coi trong thế giới khách quan có những khái niệm nền tảng hơn những khái niệm khác và có thể xét tính đúng đắn thông qua trực giác từ lâu đã được coi là không ổn. Những người tin rằng một khái niệm có thể tự làm chứng hay tự biện minh được xem là những người đã quyết định tùy tiện. Và sự tùy tiện thì không thể được chấp nhận trong quá trình biện minh cho bất cứ điều gì.Ví dụ, bạn còn nhớ câu chuyện Tí bỏ 10 xu vào lọ trong ngày hôm trước là đủ để chứng minh việc anh ta biết cái lọ ấy đang chứa 10 xu vào ngày hôm sau? Vậy, tại sao chúng ta có thể cho rằng trí nhớ anh ta đáng tin cậy? Anh ta nhớ nhầm thì sao? Hoặc có thể lắm, anh ta bị vướng vào một loại ảo giác nào đó. Vậy lý do gì khiến chúng ta và cả Tí tin vào trí nhớ của anh ta? Cũng như đã không có gì xảy ra cho chiếc lọ trong suốt khoảng thời gian ấy, hay là chiếc lọ mà chúng ta nói tới có phải là chiếc lọ đã được Tí cất tiền hay không? v.v…Như vậy, từ một niềm tin cần được biện minh là có 10 xu trong chiếc lọ, giờ vấn đề đã được mở rộng theo nhiều chiều hướng khác đặt ra nhiều câu hỏi hơn cho chúng ta. Đấy là chưa kể với những câu hỏi ấy, chúng ta vẫn chẳng sở hữu một câu trả lời rõ ràng nào.Chủ nghĩa mạng lưới liên quanCách thức cơ bản của những người theo chủ nghĩa mạng lưới là họ sẽ không cố biện minh vấn đề theo chiều dọc, bởi như thế là lâm vào vòng hồi quy bất tận. Vì vậy, thay cho chiều dọc, họ biện minh một niềm tin bằng cách tìm kiếm những bằng chứng xoay quanh nó. Những bằng chứng ấy sẽ tạo thành mạng lưới bảo vệ cho niềm tin. Bởi không có cái gì thực sự tuyệt đối làm nền tảng cho những cái khác, nên các chứng cứ dùng để xác minh sẽ được xếp đặt cùng nhau, hỗ trợ, bổ xung những khuyết thiếu cho nhau để giúp vấn đề trở nên đúng đắn.Nếu có một người thuộc chủ nghĩa mạng lưới ở đây, anh ta sẽ bảo vệ niềm tin của Tí về 10 xu trong lọ bằng những lập luận như: số tiền trong chiếc lọ nhất quán với trí nhớ của Tí về hành động anh ta đã làm ngày hôm qua, cũng như có rất nhiều yếu tố khác xuất hiện trong mạng lưới hiểu biết và cảm nhận của Tí để chứng minh điều này.Sau đây là một ví dụ để kiểm chứng quan điểm của những người theo chủ nghĩa mạng lưới.Giả sử Tèo được cô giáo giao cho bài tập về khoảng cách giữa mặt trời và trái đất và anh này hoàn toàn không có tri thức về câu trả lời ấy. Hôm sau, một ông bụt hiện lên và trao cho Tèo một viên thuốc. Tèo uống viên thuốc ấy rồi bất chợt biết được khoảng cách giữa mặt trời và trái đất.Theo ví dụ trên, những người theo chủ nghĩa liên quan không cho rằng Tèo biết được khoảng cách giữa Mặt Trời và Trái Đất. Họ lập luận rằng: tri thức này của Tèo không liên quan hoặc nhất quán với những niềm tin khác mà anh ta sở hữu. Vì không liên quan đến các niềm tin nội tại nên Tèo không cách nào có thể biện minh cho tri thức này. Bởi để nói về vấn đề trái đất và mặt trời, ít nhất anh ta phải sở hữu một vài tri thức về các hành tinh, những số liệu của các chuyên gia hay kiến thức sau những lần tham khảo tài liệu… Tuy nhiên, Tèo không có gì hết! Anh ta không thể biện minh tri thức theo dạng lưới, tức nghĩa Tèo được xác định là không có tri thức về khoảng cách giữa mặt trời và trái đất.Nhưng khoan đã! Thế nào là liên quan? Thế nào là không liên quan? Khi mà viên thuốc đã cho ta tri thức đúng về khoảng cách mặt trời và trái đất, vậy tại sao nó không được coi là một tài liệu đáng tin cậy để mang tới trí thức?Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
3
Bài 3: Sự hồi quy vô tận
Với những điều đã học trong bài tri thức là gì? chúng ta biết một niềm tin được coi là đúng khi nó được biện minh bởi những lý lẽ xác thực. Nhưng những lý lẽ xác thực này lại phải đi ra từ một niềm tin đúng đắn đã được biện minh. Rồi niềm tin đúng đắn đã được biện minh của những lý lẽ xác thực lại phải tới từ những niềm tin đúng đã được biện minh khác… OH MY GOD! Làm sao để có thể dừng lại hay chí ít là quay về vấn đề ban đầu?Hiện tượng này trong triết học được gọi là sự hồi quy (regression). Chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể về sự hồi quy trong bài học hôm nay và cách để ngăn chặn nó.Lập luận hồi quyMột nỗi lo lắng đã được Socrates bày tỏ trong tác phẩm Theaetetus rằng: nếu ta cố gắng định nghĩa tri thức theo mô hình JTB (Justified True Belief) thì nó sẽ dẫn đến sự hồi quy vô tận. Bởi nếu sự biện minh là thứ giúp chúng ta phân biệt giữa niềm tin đơn thuần với tri thức, thì để có được sự biện minh chúng ta phải đặt sự biện minh ấy trên những niềm tin mà ta cho là đúng. Mà theo Plato, một niềm tin (hay sự hiểu biết) được chứng minh là đúng khi ta biết định nghĩa của nó. Trong định nghĩa ấy, ta lại phải hiểu hết những thuật ngữ cấu thành nên định nghĩa. Và với mỗi thuật ngữ này, tự chúng lại có những khái niệm riêng của mình. Cứ như thế lặp đi lặp lại. Dường như vấn đề trên chỉ dừng lại khi có một thuật ngữ mà tự nó định nghĩa cho chính nó mà không cần thông qua sự biện minh. Tuy nhiên, nếu một khái niệm được biết mà không thông qua biện minh thì tức nghĩa có những điều có thể biết mà không cần đến biện minh nữa. Và điều này lại mâu thuẫn với mô hình JTB.Plato đã sử dụng hình ảnh của từ ngữ và các chữ cái để minh họa cho vấn đề này. Ví dụ, khi ta có sự hiểu biết về một từ thì đầu tiên ta phải biết về những chữ cái cấu thành nên nó và sự kết hợp giữa những con chữ với nhau. Tuy nhiên, chữ cái lại là đơn vị không thể cơ bản hơn được nữa, và việc biết các chữ cái không đòi hỏi ta phải đào sâu tìm tòi. Bây giờ, quay lại với mô hình JTB, ví dụ nếu tri thức phụ thuộc vào những gì cơ bản hơn, như những chữ cái trong một từ chẳng hạn, thì những chữ cái ấy sẽ phải được biết theo một cách khác so với ban đầu. Hoặc nếu chúng vẫn được hiểu biết theo cách cũ, nghĩa là chúng ta vẫn phải biện minh cho chúng, thì ta lại vướng vào sự hồi quy vô tận. Thế nhưng, nếu những thành phần này được hiểu biết theo một cách khác, nghĩa là không phải tất cả các tri thức đều có một quy trình biện minh duy nhất. Vậy quy trình mới sẽ là gì? Chúng ta hãy quay lại vấn đề ban đầu là cố gắng giải thích cách có được tri thức, và dù vậy, dù có chấp nhận tri thức theo hướng hồi quy hay tri thức có được mà không qua biện mình, thì mô hình JTB vẫn đưa đến một cảm giác SAI SAI. Câu hỏi cuối cùng vẫn chưa được thỏa mãn rằng liệu chúng ta có thể đạt được tri thức thật sự hay không?Duy bản luận (hay thuyết nền tảng)Một số nhà triết học, khởi đầu từ Aristotle (384 – 322 B.C) – học trò của Platon – đã cố gắng tìm cách tránh sự hồi quy vô tận. Trong tác phẩm Posterior Analytics của mình, Aristotle đã đưa ra quan điểm rằng có những khái niệm mà tự bản thân nó đã hàm chứa sự biện minh. Và sự tự biện minh này được biết đến thông qua trực giác. Ví dụ, phép toán học 2+3=5. Đây là ví dụ rõ ràng nhất cho việc một khái niệm tự biện minh cho chính nó và chúng ta có thể tiếp nhận khẳng định ấy bằng trực giác. Và những khái niệm khác, tương tự như vậy, được cho là những nền móng cơ bản của những tri thức không cần chứng cứ gì thêm nữa.Ngoài Aristotle, thánh Augustine (354 – 430) và René Descartes (1596 – 1650) cũng đưa ra quan điểm rằng chúng ta có thể rút ra kết luận tính đúng, sai của một khẳng định từ chính bản thân khẳng định ấy. Đó không chỉ là những phép toán 2+3=5, mà còn là những khẳng định như “không có khẳng định nào vừa đúng vừa sai”, hay câu nói “tôi tư duy, tôi tồn tại”.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
2
Bài 2: Tri thức là gì?
Như đã kết thúc ở bài trước, để đánh giá một lập luận có thuyết phục hay không, ta phải biết về tính đúng đắn của các tiền đề. Nhưng như thế nào là đúng?Cấu trúc Modus PonensMột cấu trúc lập luận rất phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta là Modul Ponens. Cấu trúc của loại lập luận này diễn giải như sau:P1: Nếu P thì QP2: P đúngC: Q đúng Ví dụ 1: Nếu anh là người thì anh có trái tim. Anh là người nên anh có trái tim.Ví dụ 2: Nếu con vật ấy là lợn thì nó biết bay. Con vật ấy là lợn nên nó biết bay.Như đã phân tích ở bài trước, chúng ta có thể xác định rằng ví dụ 1 là một lập luận hợp lý, trong khí đó ví dụ 2 chỉ là một lập luận hợp lệ vì mệnh đề Nếu con vật ấy là lợn thì nó biết bay là sai, không con lợn nào biết bay cả.Mệnh đề, đúng và biếtMỗi một cặp Chủ ngữ + Động từ được coi là một mệnh đề (clause/propostion).Ví dụ mệnh đề: Tôi hát, Ngôi nhà của tôi có màu hồng, Tôi cao hơn anh trai của tôi, Làm đàn ông khổ hơn làm phụ nữ, 2+3 bằng 5, Mạng xã hội không tốt cho trẻ nhỏ, Nguyên nhân của thủy triều là do sức hút của mặt trăng…Có thể nhiều người sẽ thắc mắc trong các ví dụ trên, có những mệnh đề không có động từ? Đừng vội, hãy thử dịch các câu đó sang tiếng Anh, thì bạn sẽ thấy động từ chính là động từ to be (is, am, are)Một mệnh đề luôn luôn có tính Đúng/Sai. Tức là, một khi một cụm từ được coi là một mệnh đề, thì mệnh đề này một là Đúng, hai là Sai. Điều này dễ hiểu, vì chẳng ai lại đi đánh giá tính Đúng/Sai của một Danh từ, cụm danh từ hay Động từ cả (Ví dụ: thật ngớ ngẩn khi đánh giá tính đúng sai của Một con vịt, Một cặp trai gái, Bàn tay, Nhảy dây, Đá bóng).***Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta thường dùng từ Biết theo 2 cách sau:Biết + Động từ/Danh từ/Đại từ: Tôi biết chơi guitar, Tôi biết nói tiếng Anh, Cô ấy biết Jimmy, Họ biết địa chỉ của công ty tôi.Biết + Mệnh đề: Tôi biết rằng nước sôi ở 100 độ C, cô ấy biết rằng tôi rất yêu cô ấy.Khi sử dụng từ biết, chúng ta hàm ý nói rằng điều ai đó biết là đúng. Chẳng hạn, không ai nói Tom biết thủ đô của Campuchia là Paris nhưng thật ra thủ đô của Campuchia là Phnom-Pênh. Thay vào đó, nên nói Tom tin rằng thủ đô của Campuchia là Paris nhưng thật ra thủ đô của Campuchia là Phnom-PênhTrong cách dùng từ biết thứ nhất, ta không thể đánh giá tính Đúng/Sai của một động từ, danh từ, đại từ đơn lẻ nên cách dùng từ biết này không có gì phải bàn cãi.Do vậy, kiểu hiểu biết thứ hai mới là thứ chúng ta cần quan tâm trong bài học này. Vì thế kiểu hiểu biết (tri thức) này còn được gọi là tri thức mệnh đề (propositional knowledge)***Qua phân tích ở trên, ta thấy hiểu biết và tính đúng đắn có mối liên hệ rất chặt chẽ. Như vậy có phải hiểu biết (tri thức) chính là việc có một niềm tin đúng?Giả sử bạn được hỏi “Hôm nay thứ mấy?”(Ví dụ: hôm nay là thứ Ba). Bạn trả lời bằng cách tung đồng xu. Nếu ngửa, bạn trả lời là thứ Ba, còn xấp thì trả lời đáp án khác. Bạn quyết định tung đồng xu, nhận được mặt ngửa và trả lời đúng. Như vậy bạn có được coi là biết đáp án không? Có lẽ nhiều người sẽ cho rằng đó không thể coi là hiểu biết vì bạn không biện minh được vì sao bạn lại đưa ra được câu trả lời đó.Có vẻ như đến đây, ta đã tìm ra được 3 thành phần cấu thành nên tri thức hay hiểu biết.Định nghĩa tri thức theo mô hình JTB (justified-true-belief)Khái niệm tri thức được công nhận và phổ rộng cho đến ngày hôm nay là khái niệm được đưa ra bởi một nhà hiền triết sống ở thời cổ đại, Platon. Platon đã định nghĩa tri thức của ông như sau: knowledge is a justified true belief (tri thức là một niềm tin đúng đã được biện minh).Ví dụ: Ta có thể nói Tí biết có 10 xu trong lọ bởi vì Tí tin (belief) rằng có 10 xu trong lọ, thực tế (truth) có đúng 10 xu trong lọ và Tí biện minh (justification) rằng cậu ta nhớ mình đã tự tay nhét 10 xu vào trong lọ.Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
-
1
Bài 1: Lập luận là gì?
Trong bài đầu tiên của khóa học Triết học và Tư duy phản biện, chúng ta sẽ không đi ngay vào việc giải thích những khái niệm như tư duy hay phản biện mà bắt đầu từ nền tảng cơ bản nhất của quá trình hình tư duy, đó là lập luận.Tính thuyết phục của lập luậnĐối với triết học, lập luận như máu, nó giúp “nuôi sống” các niềm tin. Tuy nhiên, các niềm tin đúng đắn chỉ được tạo nên từ những lập luận đúng. Và trong ví dụ dưới đây, chúng ta sẽ nhận ra sự khác nhau giữa việc lập luận và cảm nhận chủ quan.Tí và Tèo ngồi nói chuyện với nhau:Tí: Mày có biết là lợn không biết bay không?Tèo: Không, nó không biết bay.Tí: Nhưng sao mày biết?Tèo: Đơn giản là tao biết thôi.Tí: Mày biết thế nào?Tèo: Tao tin như thế.Tí: Nhưng tại sao mày lại tin là lợn không biết bay?Tèo: Bởi đó là niềm tin của tao.Tí: Tại sao mày nghĩ niềm tin của mày sẽ thuyết phục được tao?Tèo: Bởi vì tao đúng.Tí: Tại sao mày biết mày đúng?Tèo: Tao nghĩ là nó đúng thôi!Tí: Sao tao cứ thấy SAI SAI.Rõ ràng cuộc tranh luận trên đang lâm vào thế bế tắc. Vì việc Tèo có một niềm tin nào đó, như con lợn không biết bay hay anh ta đúng, không có nghĩa là Tí cũng có niềm tin tương tự. Và lời của Tèo đã không thuyết phục Tí.Bây giờ, ta thử thay đổi một chút cuộc giao tiếp ở trên.Tí: Theo mày, lợn có biết bay không?Tèo: Không, tao chắc chắn lợn không biết bayTí: Sao mày chắc chắn vậy?Tèo: Vì tao có một lập luận thuyết phục.Tí: Lập luận thế nào?Tèo: Một thứ gì muốn bay được thì nó phải có hình dáng khí động học. Lợn không có hình dáng khí động học, nên nó không thể bay.Tí: Ồ, nghe hợp lý đấy!Tính thuyết phục của một lập luận mang lại cho lập luận đấy sự logic. Từ sự logic, khả năng chúng ta thuyết phục được những người khác tin vào những niềm tin của chúng ta sẽ cao hơn. Các nhà triết học rất coi trọng tính thuyết phục và dùng nó giải thích cho mọi lập luận. Như trong ví dụ này, lập luận của Tí về sự liên quan giữa khí động học và hình dáng của lợn chưa hẳn chính xác nhưng lập luận của anh ta lúc này đã khiến Tèo chấp nhận hơn ví dụ trước.Lập luận là gì?Lập luận là những niền tin hay những luận điểm được kết nối với nhau. Cấu trúc của một lập luận là vô cùng quan trọng, vì nó giúp tạo ra tri thức mới bằng cách liên kết các tri thức cũ lại với nhau. Về hình thức, cấu trúc của lập luận khá đơn giản nhưng nó chứa đầy sức mạnh:P1 + P2 => CP1, P2 gọi là tiền đề (premise), là những niềm tin, luận điểm mà người lập luận cho là đúng (có nghĩa nó có thể đúng hoặc sai)C gọi là kết luận (conclusion), là những niềm tin được rút ra khi kết hợp các tiền đề với nhau.=> gọi là suy luận (referring), là quá trình đi từ tiền đề đến kết luận.Dưới đây là một số ví dụ về lập luận.Đã là người thì ai cũng chết. Socrates cũng là người. Vì vậy, Socrates cũng sẽ chết.Tất cả các loài chim đều biết bay. Gà cũng thuộc họ chim. Vì vậy, thịt gà rất ngon.Tất cả người trẻ đều khao khát thành công. Tôi là người trẻ tuổi. Vì vậy, tôi khao khát thành công.Tất cả những động vật 4 chân đều ăn cỏ. Hổ cũng là một loài động vật 4 chân. Vì vậy, hổ ăn cỏ.Tèo là một người không chung thủy. Bởi vì anh ấy là đàn ông, mà đàn ông thì thường không chung thủy.Lập luận hợp lệ và lập luận hợp lýChúng ta đã có 5 ví dụ về sự lập luận ở trên. Câu hỏi đặt ra là có cách nào để đánh giá những lập luận này? Câu trả lời là: có 2 cách.Cách 1: Đánh giá dựa vào tính đúng đắn của các tiên đề. Như ở ví dụ 2 và 4, không phải loài chim nào cũng biết bay và chó mèo cùng một số loài khác cũng bốn chân nhưng chúng không ăn cỏ.Cách 2: Đánh giá dựa trên sự logic giữa tiền đề và kết luận. Kết luận được coi hợp logic là khi nếu tất cả các tiền đề đều đúng thì kết luận không thể sai. Tuy nhiên, xét ví dụ 2, giả sử ta cho hai tiền đề tất cả các loài chim đều biết bay và gà thuộc họ chim là đúng, thì kết luận thịt gà rất ngon chưa chắc đã chính xác vì không phải ai cũng thấy như vậy. Mời các bạn đọc bài viết đầy đủ tại đây
We're indexing this podcast's transcripts for the first time — this can take a minute or two. We'll show results as soon as they're ready.
No matches for "" in this podcast's transcripts.
No topics indexed yet for this podcast.
Loading reviews...
ABOUT THIS SHOW
Rèn luyện tư duy Phản biện thông qua các câu hỏi, vấn đề triết học kinh điển
HOSTED BY
Đạt Vũ
CATEGORIES
Loading similar podcasts...