Tạp chí văn hóa podcast artwork

PODCAST · arts

Tạp chí văn hóa

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

Publisher-supplied feed metadata · PodParley refreshed Sep 12, 2026 · Source feed

  1. 24

    Raviolivre : Quyển sách sưu tầm cách làm món hấp ravioli trên thế giới

    Ravioli là món ăn truyền thống nổi tiếng của Ý, làm bằng bột mì cán mỏng có nhân bánh đa dạng như thịt, nấm, phô mai, tôm cá, rau củ thái nhỏ. Về hình dáng và cách làm, Ravioli rất giống bánh tai, bánh gối, hoành thánh hay sủi cảo của châu Á. Cùng với mì sợi, ravioli là món ăn khá phổ biến ở khắp nơi, khác hay chăng là thành phần chế biến và cách dùng tên gọi. Trong vòng nhiều năm, nhà báo người Pháp Emmanuel Guillemain d'Echon đã đến nhiều nước trên thế giới, để sưu tầm và ghi chép công thức của mỗi kiểu ravioli của từng nơi. Kết quả là một quyển sách dạy nấu ăn dày gần 600 trang mang tựa đề « RavioLivre, le tour du monde d'un fou du ravioli » (Chuyến du lịch vòng quanh thế giới của một người ghiền Ravioli) do nhà xuất bản Keribus phát hành. Cuốn sách này không phải là một quyển bách khoa toàn thư về Ravioli, mà lại giống như một sổ tay hành trình kết hợp với khám phá ẩm thực, vì tác giả kể lại những cuộc gặp gỡ với các gia đình người dân bản xứ, nghe họ kể lại những truyền thuyết, phong tục cũng như ghi chép lại bí quyết nấu ăn gia truyền.  Hành trình viết sách đã đưa tác giả Pháp đi đến hơn 20 nước trên thế giới : từ món Plottes của vùng Québec Canada, bánh Pierogi của Ba Lan, Klepe của vùng Balkans dùng với xốt bơ trắng trộn tỏi chứ không dùng xốt cà chua, loại Kasnudeln và Knodel của Áo, Manti ở Thổ Nhĩ Kỳ, Pelmeni của Nga, Mandu của Hàn Quốc, Gyoza Nhật Bản, Boudz của Mông Cổ, Jiaozi và Wonton của Trung Quốc … Ngoài ra, chương cuối quyển sách dành cho những lộ trình khám phá bên lề, có thể là đề tài trong một quyển sách kế tiếp. Trả lời phỏng vấn đài RFI ban tiếng Pháp, Emmanuel Guillemain d'Echon trước hết cho biết ông thích nhất món raviolis của những nước nào : Trên thế giới, có hàng ngàn kiểu bánh hấp có nhân đa dạng, nhưng tôi vẫn thích nhất loại bánh hấp Modak của Ấn Độ, Tiểu Long bao của Trung Quốc và Khinkali của Gruzia. Đây là một cảm nhận rất chủ quan và hẳn chắc là mỗi độc giả sẽ có một cái nhìn khác. Nhìn chung, tôi thích nét tinh tế trong cách làm cũng như trong hương vị của các loại bánh này. Bánh Modak của Ấn Độ được chế biến như một món ngọt để cúng thần đầu voi Ganesh. Trong khi bánh bao hấp Khinkali của Gruzia lại giống như Tiểu Long Bao (Xiao Long Bao) ở Thượng Hải, đó là loại bánh hấp khá công phu, vì ngoài nhân thịt còn có thêm một chút nước dùng ở bên trong lớp vỏ bột thật mỏng. Nước dùng tạo thêm nhiều hương vị và giữ cho nhân bánh được nóng lâu.  Đây là một sự kết hợp khá độc đáo mà người Ý ở vùng Bologna chưa hề nghĩ tới. Lần đầu tiên ăn bánh Khinkali, bạn sẽ khá ngạc nhiên : loại ravioli này nên được ăn nguyên chứ đừng nên cắn từng miếng, vì nếu không khéo, nước dùng sẽ đổ lên áo của bạn. Đây là món ăn quốc hồn quốc túy của Gruzia (dù chưa được công nhận chính thức). Người dân miền núi Khevsur hay Pshav đã nâng cách làm Khinkali lên hàng nghệ thuật. Bánh có vị nhẹ nhàng, cay cay, nhân thịt được trộn với rau thơm và một số thảo mộc đặc biệt của vùng núi Tushetia. Chẳng hạn như hạt thì là của miền núi có hương thơm khác lạ hơn so với loại thì là Ai Cập. Làm thế nào để ghi chép được hết hàng ngàn loại ravioli trên khắp thế giới. Khi bắt tay viết một quyển sách « RavioLivre » với chủ đề phổ quát như vậy, tác giả Emmanuel Guillemain d'Echon cho biết ông đã tự đặt ra một số tiêu chuẩn nhằm hạn chế phạm vi tìm kiếm của mình : Vâng, tôi phải tự giới hạn mình, loại trừ những món bánh chiên hoặc bánh nướng. Bằng không, quyển sách sẽ có đến hàng ngàn trang và cần có thêm nhiều tập. Tại nhiều nước châu Á, các loại bánh bao nhỏ có thể được chiên hay hấp. Thổ Nhĩ Kỳ có loại bánh Manti, người Nhật Bản thường làm bánh Gyoza, bánh được luộc rồi chiên áp chảo. Ở Bắc Phi, cũng có loại bánh brik, bánh pastel ở Senegal, sambosa ở Madagascar, nhưng các loại này gần giống với bánh chiên samossa của Trung Á và Ấn Độ. Vì thế cho nên tôi đưa ra một số tiêu chí rõ ràng : thứ nhất, khổ bánh vừa vặn có thể ăn nguyên miếng, thứ nhì bột bánh và nhân bánh cần được hấp hay luộc chín cùng một lúc. Bánh không được chiên dầu, nướng trong lò hay trên than củi, cũng như bánh không được gói bằng lá hay bằng giấy. Vì vậy, bất cứ món ăn nào gì được gói trong lá đều không được chấp nhận như zongzi của Trung Quốc, bánh lá của Việt Nam, hay bánh gói lá ngô tamales của Mexico, binaki của Philippines...  Tuy nhiên, để tránh làm phật lòng nhiều bạn đọc gắn bó với di sản ẩm thực của nước họ, tôi có dành một chương cuối để nhắc đến các loại bánh quan trọng, nên để dành cho những kỳ tới. Chỉ cần nhắc đến chữ « ravioli », người ta lập tức nghĩ ngay đến nước Ý. Nhưng món ravioli kiểu Ý chỉ xuất hiện vào thời Trung Cổ, trong khi các loại bánh hấp có nhân thịt xuất phát từ châu Á từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên, không ai biết rõ nguồn gốc cũng như người đã phát minh ra món này, theo các chuyên gia, đó là sự hình thành của hàng chục nghìn năm tiến hóa ẩm thực. Từ đâu lại xuất phát ý tưởng viết về muôn kiểu ravioli trên thế giới ? Tác giả người Pháp Guillemain d'Echon cho biết hành trình tìm kiếm các công thức chế biến món này xuất phát từ những kỷ niệm thời thơ ấu của ông : Vâng, chiếc ravioli đầu tiên mà tôi từng được ăn hồi còn nhỏ là của bà ngoại tôi. Ông cố tôi là người gốc Pháp từng đến lập nghiệp tại Trung Quốc vào đầu thế kỷ XX và bà ngoại tôi được sinh ra ở Thiên Tân. Do từ thời còn nhỏ, bà ngoại tôi được nuôi nấng bởi một bà vú nuôi người Hoa, cho nên khi lớn lên bà biết nói tiếng Hoa cũng như biết nấu một số món ăn Trung Quốc. Khi trở về Pháp, bà thường nấu cho gia đình các món canh thịt, bắp cải xào và thỉnh thoảng có cả món « jiaozi » (giáo tử) một loại bánh bột hấp nhân thịt, giống như sủi cảo miền bắc Trung Quốc (tiếng Hán là thủy giáo) hay bánh gyoza của Nhật Bản, còn thường được gọi là « bánh tai ». Tôi đã được dịp thưởng thức những chiếc bánh jiaozi này khi đến Trung Quốc lần đầu tiên vào năm 2011, để tìm lại dấu vết của bà ngoại tôi ở Thiên Tân, nơi bà từng sống thời thơ ấu, cũng như tìm lại được hương vị thơm ngon của những chiếc bánh (cả hấp lẫn chiên) trong các quán ăn gia đình nho nhỏ. Còn về công thức món ăn, tôi đã trở lại Trung Quốc sống vài ngày trong một gia đình người Hoa nhân dịp Tết Nguyên đán, vì đó chính là thời điểm các gia đình thường làm bánh « jiaozi ». Các chuyến đi làm cho tôi cảm thấy xúc động bồi hồi mỗi lần nhớ lại những kỷ niệm hay những món ăn của bà ngoại. Trong các cuộc hành trình nhằm thu thập công thức và khám phá hàng trăm biến thể của ravioli trên các châu lục, loại bánh hấp nào đã khiến tác giả cảm thấy thích thú ngạc nhiên nhất sau những chuyến đi xa. Ông Emmanuel Guillemain d'Echon cho biết : Đối với tôi, một trong những loại ravioli đẹp mắt tuyệt vời là loại « bánh hấp thạch tím » được làm từ khoai mỡ ở Trung Quốc. Lúc đầu tôi nghĩ có lẽ sẽ tìm thấy loại bánh hấp màu tím ở Châu Phi, Nam Mỹ, hoặc Philippines, nơi chuyên trồng các loại khoai môn hay khoai mỡ, có màu tím rực rỡ. Trong những chuyến đi xa nhằm mục đích viết sách, tôi ít bao giờ tìm thấy những điều mình đã nghĩ từ lâu ở trong đầu, nhưng lại bắt gặp rất nhiều thứ khác tuyệt vời không kém. Khi đến Trung Quốc, trong lúc tôi đang tìm kiếm một loại há cảo kiểu Quảng Đông, có lớp vỏ thật mỏng trong suốt như pha lê, tôi lại tìm thấy nhiều loại bánh hấp khác với nhiều màu, nhưng màu sắc đập mắt nhất chính là loại bánh hấp được làm từ bột khoai mỡ. Tuy đi xa với mục đích sưu tầm công thức nấu ăn để viết sách, tác giả không gặp đầu bếp hay chủ quán ăn mà lại tìm đến những gia đình dân thường, vì ông tin rằng các món ngon được phổ biến trong dân gian thường là những món ăn gia đình từ đời này sang đời nọ. Chính các bà nội trợ nắm trong tay bí quyết gia truyền. Họ nấu ravioli trong nhà hoặc cùng với các nhóm nhỏ, theo truyền thống và công thức riêng của mỗi gia đình. Theo tác giả, có thể nói là dự án viết sách chính là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa của nhiều gia đình mà lẽ ra thường hay bị khép kín. Điều này hoàn toàn đúng, nhất là trong một số trường hợp, tôi thực sự đã đến gõ cửa tận nhà, để xin phép ghi chép lại các công thức gia truyền làm ravioli tại những vùng nông thôn ở Áo hay ở Đức. Mỗi lần tôi đến những vùng sâu vùng xa này, tôi đề nghị trao đổi, phụ giúp một số công việc như quét dọn hay sửa nhà. Đổi lại, các bà nội trợ chỉ cho tôi cách làm ravioli của họ. Đây thực sự là một món quà bởi vì công thức chế biến món ăn đòi hỏi thời gian, tay nghề và lòng hiếu khách. Thông qua cuốn sách này, tôi muốn kể lại những câu chuyện gia đình, có nhiều điều quan trọng mà chúng ta có thể truyền đạt chia sẻ qua thức ăn. Có nhiều món ăn ta có thể tự làm một mình, nhưng khi làm ravioli, để cho nhanh hơn thì các bà nội trợ thường cần đến sự phụ giúp của gia đình, hoặc là tụ họp thành những nhóm nhỏ với bạn bè, hàng xóm, để nấu ăn theo tinh thần cộng đồng. Tôi đã từng quan sát điều này tại Thổ Nhĩ Kỳ, tại Bosnia trong cộng đồng người tỵ nạn sau chiến tranh vùng Balkans, tại vùng núi Tusheti ở Gruzia hay ở miền bắc nước Ý. Các phụ nữ vùng nông thôn thường hẹn gặp nhau để làm ravioli, họ dành thời gian để trò chuyện, hỏi thăm nhau về cuộc sống gia đình, những đứa cháu mới sinh. Điều này lại càng hiển nhiên tại Ý, nơi có nhiều tên gọi khác nhau cho ravioli tùy theo kích thước và hình dạng. Đồng thời, cách làm món ravioli ở nhà cũng được xem như một sinh hoạt cộng đồng, gắn kết nhiều gia đình lại với nhau. Điều này không chỉ hiển nhiên ở vùng phương bắc Emila Romagna, với thủ phủ là Bologna (nơi khai sinh loại mì nhồi thịt tortellini) mà còn khá phổ biến ở các vùng miền nam nước Ý như Sicily hay Sardinia. Cách chế biến mang tính cộng đồng vì nó thực sự gắn liền với những lễ hội tôn giáo như mùa Giáng Sinh hoặc mùa lễ Phục Sinh, khi các gia đình thường quây quần bên nhau. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, theo ông Guillemain d'Echon, là từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, ta có thể nhìn thấy những động tác cử chỉ làm bánh được lưu truyền từ đời này sang đời nọ. Cách làm giống nhau có thể là do làn sóng di dân. Nhiều gia đình ở Achentina có cách chế biến món ravioli gần giống với người Ý, một điều khá dễ hiểu vì cộng đồng người Ý nhập cư đã đem công thức này vào Achentina. Nhưng cũng có trường hợp nhiều gia đình ở vùng Bắc Á, ở dãy núi Ural, ở vùng Balkans hay ở miền nam nước Ý có cách làm như nhau, cho dù chẳng có liên hệ gì với chuyện di dân. Ở những phương trời xa xôi, cách biệt đến vạn dặm, các bà mẹ tuy không cần vấn ý nhau, nhưng vẫn có thể thắt cho con mình những bím tóc giống nhau, vì có lẽ đó là cách làm hiển nhiên, thuận tay nhất. Điều đó giải thích phần nào vì sao cách nhồi bột cán mỏng, để rồi cho thêm nhân bắt bánh, lại trở nên phổ biến trên khắp thế giới.

  2. 23

    Góc vườn âm nhạc tưởng niệm giọng ca huyền thoại Dolly Parton

    Một mái tóc bồng bềnh vàng óng ánh như lúa mì trong nắng, làn son môi lúc nào cũng đỏ chói cho nụ cười thêm tươi rói. Vóc dáng của Dolly Parton càng trở nên quen thuộc với công chúng nhờ những bộ trang phục tươi sáng, lấp lánh. Gương mặt khả ái ấy giờ đây không còn nữa. Danh ca Dolly Parton đã qua đời vì bệnh ung thư hôm 25/08/2026 vừa qua tại Nashville, hưởng thọ 80 tuổi.  Được mệnh danh là nữ hoàng dòng nhạc đồng quê, Dolly Parton (1946-2026) sinh trưởng trong một gia đình đông con tại bang Tennessee, Hoa Kỳ. Từ năm lên 10, bà đã di biểu diễn trong các chương trình truyền hình và thường xuyên hát trên đài phát thanh địa phương ở Knoxville, Tennessee. Nhân một buổi biểu diễn, bà đã có cơ hội gặp ca sĩ kiêm tác giả nổi tiếng Johnny Cash. Chính ông là người đã khuyến khích Dolly, lúc bấy giờ mới 13 tuổi, nên đeo đuổi con đường âm nhạc. Năm 21 tuổi, DollyParton thu hút sự chú ý khi phát hành album đầu tay "Hello, I'm Dolly" (1967) do chính bà sáng tác và ghi âm. Đến đầu thập niên 1970, sự nghiệp ca hát của Dolly thực sự cất cánh với nhiều bài hát ăn khách như "Jolene, Here you come again, 9 to 5, Coat of Many Colors" và nhất là  "I will always love you", được viết hầu như cùng lúc với bài "Jolene". Ca khúc nhạc đồng quê kinh điển này được Dolly Parton thu âm lần đầu tiên vào năm 1974. Gần hai thập niên sau đó (1992), Whitney Houston thể hiện lại theo phong cách nhạc pop trữ tình cho bộ phim "The Bodyguard". Nhờ vậy, Dolly Parton trở thành tác giả của một trong những bài hát bán chạy nhất mọi thời đại. Trong vòng 60 năm sự nghiệp, Dolly Parton đã phát hành hơn 60 album phòng thu và sáng tác hơn 3.000 bài hát, trong đó có khoảng một phần ba đã được ghi âm, vì ngoài những bản nhạc ăn khách của mình, Dolly Parton còn sáng tác nhạc cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác (Merle Haggard, Kenny Rogers, Hank Williams Jr, Emmylou Harris hay Skeeter Davis .....) Với thời gian, Dolly Parton trở thành một trong những nghệ sĩ thành công nhất trong lịch sử dòng nhạc country với hơn 100 triệu đĩa hát được bán trên thị trường, 26 đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng Billboard của Mỹ và 11 giải Grammy, nhưng bà vẫn là một gương mặt hiếm hoi, từ lúc còn sống, đã được đưa vào Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Đồng quê (1999) cũng như Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll (2022) cho dù lúc đầu, Dolly Parton đã từ chối đề cử này vì bà nghĩ rằng mình không xứng đáng với một giải thưởng nhạc rock.  Album cuối cùng của Dolly Parton phát hành cuối năm 2023 mang tựa đề "Rockstar" (Ngôi sao nhạc rock) đánh dấu sự hợp tác của bà với những tên tuổi lẫy lừng nhất làng nhạc rock như Paul McCartney, Ringo Starr, Sting, Elton John, Stevie Nicks, Sheryl Crow hay Miley Cyrus .... Tầm ảnh hưởng của Dolly Parton không chỉ dừng lại ở âm nhạc, vì ngoài ca hát bà còn từng đóng phim, sản xuất show truyền hình. Nhờ tài kinh doanh, bà làm ăn thành đạt trong nhiều lãnh vực khác, nhưng quan trọng hơn nữa, bà là một nghệ sĩ có tam lòng nhân hậu. Dolly Parton thường hay tặng tiền cũng như vận động quyên góp nhằm giúp đỡ các gia đình nghèo ở Mỹ, giúp họ vượt qua khó khăn, hoạn nạn hay bị trắng tay sau những đợt thiên tai, đồng thời bà luôn hỗ trợ giáo dục thông qua chương trình "Imagination Library" tặng sách cho trẻ em trên thế giới. Có lẽ cũng vì thế trong mắt công chúng Mỹ, nữ hoàng dòng nhạc country không chỉ đơn thuần là một biểu tượng của làng giải trí. Dolly Parton còn là môt tâm hồn độc đáo, vĩ đại hơn cả đời thường, nhưng không bao giờ làm cho những người xung quanh mình cảm thấy nhỏ bé, đáng thương. Một con người vui tính, tốt bụng, đa tài mà vẫn khiêm tốn. Dù nay đã ra đi, nhưng Dolly vẫn để lại cho nước Mỹ một nguồn ánh sáng tưởng chừng bé tí, nào ngờ đâu vĩ đại, diệu kỳ.

  3. 22

    Các nhà văn nữ nổi tiếng nhờ viết truyện trinh thám

    Mỗi lần nhắc tới truyện trinh thám, hầu như mọi người đều nghĩ tới Agatha Christie. Với hơn 2 tỷ quyển sách được bán trong một thế kỷ qua, Agatha Christie là nhà văn được đọc nhiều nhất trên thế giới, chỉ sau văn hào Shakespeare. Tuy vậy, tác giả người Anh này không phải là phụ nữ đầu tiên thành danh nhờ sáng tác tiểu thuyết về các vụ án mạng bí ẩn, ly kỳ.   Trong làng văn học, ngòi bút đầu tiên được cho là đã khai sinh thể loại trinh thám chính là Edgar Allan Poe. Vào đầu những năm 1840, nhà văn người Mỹ đã đặt nền móng cho phương pháp điều tra hiện đại và lối suy luận logic thông qua ba tập truyện ngắn với nhân vật hiệp sĩ Auguste Dupin. Khoảng hai thập niên sau (1860), nhà văn người Pháp Émile Gaboriau gợi hứng từ cách viết của Poe để sáng tác truyện dài với vào năm 1866 viên thanh tra Lecoq trong tác phẩm « L'Affaire Lerouge » (Vụ án goá phụ Lerouge), ông trở thành cha đẻ của tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp. Chính viên thanh tra Lecoq đã gợi hứng cho bác sĩ Arthur Conan Doyle sáng chế ra thám tử Sherlock Holmes và  nhân vật này đã giúp cho truyện trinh thám trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới, từ cuối những năm 1880. Về phía các nhà văn nữ, Agatha Christie đã cho ra mắt độc giả quyển tiểu thuyết đầu tiên (Vụ án bí ẩn ở Styles) vào năm 1920. Có thể nói là cả hai nhân vật hư cấu Hercule Poirot và Miss Marple đều đã ra đời nhiều thập niên sau hai thám tử Lecoq cũng như Sherlock Holmes. Thật ra, hầu như vào cùng một thời với Conan Doyle, đã có một số nhà văn nữ nổi tiếng nhờ viết truyện trinh thám, chỉ có điều là tên tuổi của họ không được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Hơn nữa, Agatha Christie tựa như một cây đại thụ trong làng văn học, cái bóng quá lớn của bà che khuất hẳn tác phẩm của những ngòi bút nữ đi trước. Có lẽ để bù đắp phần nào thiếu sót này, tác giả người Pháp François Rivière gần đây đã cho phát hành quyển tiểu luận « De l'Assassinat considéré comme une affaire de Femmes », tạm dịch « Khi phụ nữ quan tâm đến các vụ án mạng », nhà xuất bản Calmann-Lévy. Cách đây vài năm, ông François Rivière đã viết một quyển tiểu sử khá đầy đủ về nữ hoàng trinh thám Agatha Christie. Lần này, quyển tiểu luận dành cho các nhà văn nữ (chủ yếu là các tác giả Anh-Mỹ) từng đóng góp khá nhiều cho thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết trinh thám kể từ giữa thế kỷ XIX. Những ngòi bút tiên phong này đã mở đường sau đó cho nhiều văn nữ khác thành công trong thể loại hồi hộp trinh thám cũng như điều tra hình sự. Trong số này, phải kể đến các tác giả người Mỹ như Patricia Highsmith tác giả của các tập truyện xung quanh nhân vật Mr. Ripley (1950) hay Patricia Cornwell (1990). Về phía Anh, có các ngòi bút như P.D James (1960) hay Ruth Rendell (1970). Còn tại Pháp, có các nhà văn nữ như Danielle Thiéry, Karine Giebel, Céline Denjean và nhất là Fred Vargas, nổi tiếng từ những năm 1990 trở đi.  Được xem như cánh chim đầu đàn dòng truyện trinh thám của Pháp, nhà văn Fred Vargas nổi bật nhờ lối viết đậm chất văn chương, cuộc điều tra vận dụng nhiều suy nghĩ và thường không có cảnh máu me, chết chóc. Xây dựng xung quanh viên thanh tra Adamsberg, tiểu thuyết của Fred Vargas đã nhiều lần được chuyển thể thành phim truyền hình. Nội dung tác phẩm ít tập trung vào các màn săn lùng hồi hộp, rượt đuổi nghẹt thở mà lại tạo ra một bầu không khí bí ẩn bao trùm, kết nối những chi tiết tầm thường, tưởng chừng nhỏ nhặt rời rạc để rồi dẫn đến cái kết thú vị bất ngờ. Về phần các nữ tác giả tiên phong trong việc viết truyện trinh thám vào giữa thế kỷ XIX, tác giả quyển tiểu luận François Rivière, nhân dịp trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, cho biết đã có khá nhiều ngòi bút nữ từ giai đoạn khai sinh tiểu thuyết, nhưng sau đó họ lại bị lãng quên dần dần, tác phẩm ít còn được tái bản : « Một trong những gương mặt đã khai sinh dòng tiểu thuyết trinh thám ở Mỹ chính là nhà văn Anna Katharine Green. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, thân phụ là một luật sư chuyên về các vụ án hình sự ở New York, cho nên từ thời thơ ấu, nhà văn này đã chịu nhiều ảnh hưởng từ phía gia đình, hay ít ra cô được nghe ở trong nhà mỗi lần bố cô bàn về công việc. Cô Anna Katharine Green đã có ý tưởng khởi nghiệp văn học bằng cách viết những cuốn tiểu thuyết kết hợp điều tra vụ án và phiên toà xét xử. Nhân vật chính không phải là thám tử tư, mà lại là một cảnh sát thực thụ ở thành phố New York, dựa vào điều tra để lần tìm manh mối nhằm giải quyết các vụ án hình sự. Được mệnh danh là người đã khai sinh tiểu thuyết trinh thám Mỹ, nhà văn này đã viết hơn 40 cuốn tiểu thuyết từ năm 1878 đến năm 1916. Khoảng một thập niên trước Anna Katharine, đã có một nhà văn nữ người Mỹ khác là Metta Victor (tên thật là Victoria Fuller), từng cho đăng nhiều kỳ trên báo các tác phẩm trinh thám trong đó có "The Dead Letter" (Lá thư gây chết chóc). Đây là một trong những tác phẩm trinh thám sớm nhất trong lịch sử văn học hiện đại. Cho nên cả hai gương mặt này đều được công nhận là những phụ nữ đầu tiên viết tiểu thuyết thuộc thể loại này. Cách dựng truyện của họ đều đã ảnh hưởng đến các ngòi bút nữ thế hệ sau, kể cả Agatha Christie. Mãi đến hơn bốn thập niên sau, Agatha Christie mới được đăng quang thành Nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám nhờ xuất bản những cuốn sách ăn khách trên toàn cầu ». So với dòng tiểu thuyết tại Pháp, truyện trinh thám đã phát triển khá sớm và khá nhanh tại vương quốc Anh. Từ văn phong cho đến nội dung cốt truyện, mỗi nữ tác giả đều có một nét riêng. Vậy thì đâu là điểm chung giữa các ngòi bút nữ nổi tiếng như Agatha Christie, Ruth Rendell hay P.D James ? Ông François Rivière nhận xét : «Trước hết, những phụ nữ này không có một cuộc sống dễ dàng trước khi họ trở thành những tác giả ăn khách, thành công trên văn đàn. Agatha Christie từng gặp khá nhiều vấn đề trong gia đình, cuộc sống vợ chồng thiếu hạnh phúc, nhưng có lẽ cũng vì thế mà tìm lối thoát qua chuyện sáng tác viết văn. Về phần mình, Ruth Rendell xuất thân từ một gia đình nghèo khó, không phải lúc nào cũng dư dã đủ ănd và nhà văn này đã phải chịu khó làm đủ mọi việc trong một thời gian dài để kiếm sống, trước khi thành công nhờ xuất bản những cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Còn P.D James cũng đă trải qua nhiều năm tháng để chăm sóc người chồng, do ông bị mắc bệnh tâm thần. Có thể nói là đối với các ngòi bút này, sáng tác là một cách để « thoát ly » trong tâm trí, để quên đi phần nào gia cảnh khó khăn. Ít ra đó phần nào là động lực thúc đẩy các ngòi bút này sáng tác đều đặn và dồi dào như vậy. Một điểm chung khác là các ngòi bút này thường xuyên quan tâm đến những vụ án có thật và những phiên tòa gây chấn động dư luận. Họ luôn nhìn vụ việc từ góc độ của một người phụ nữ, và thường tự đặt mình vào tư thế của kẻ bị tình nghi hay bị cho là đã phạm tội. Tiểu thuyết của các ngòi bút này thường phản ánh bối cảnh xã hội và đồng thời phân tích khá sâu sắc về tâm lý con người ». Trong quyển tiểu luận của mình, ngoài việc đề cập đến các ngòi bút nữ có sự nghiệp sáng tác nhiều năm trước Agatha Christie, tác giả François Rivière còn dành một chương quan trọng cho ngòi bút Ruth Rendell, mà ông cho là một trong những gương mặt đáng chú ý nhất dòng tiểu thuyết trinh thám thế kỷ XX : « Đúng vậy, Ruth Rendell là một ngòi bút sáng tác khá sung túc đều đặn, với hơn 60 quyển truyện, kể cả tác phẩm đăng với tên thật hay đăng với bút danh. Phải nói rằng bà bắt đầu sự nghiệp sáng tác (vào năm 1964) một cách khá ngẫu nhiên, qua việc tạo ra nhân vật Wexford, một viên cảnh sát vùng tỉnh lẻ chuyên điều tra về các vụ án. Nhân vật này có đôi nét khác biệt so với các viên thanh tra nổi tiếng, các thám tử kinh điển. Một thập niên sau ngày xuất bản cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tay, bà lại cho ra mắt độc giả cuốn tiểu thuyết với tựa đề « Vera va mourir » (Vera sẽ chết), tựa đề tiếng Anh là « A Dark-Adapted Eye » kể lại câu chuyện có thật của người phụ nữ cuối cùng thọ án tử hình, bị treo cổ ở vương quốc Anh. Tuy được gọi là truyện trinh thám, nhưng thật ra đây lại là một tác phẩm nghiên cứu mổ xẻ tâm lý tội phạm một cách tuyệt vời, bên cạnh đó tiểu thuyết còn có một dàn nhân vật đa dạng, khá bí ẩn và phức tạp về mặt nội tâm. Đây là cuốn đầu tiên trong loạt tác phẩm xuất sắc của Ruth Rendell, được đăng dưới bút danh Barbara Vine, giúp ngòi bút này giành được nhiều giải thưởng văn học lớn, tiêu biểu nhất là giải Edgar Allan Poe Award của Hiệp hội các tác giả trinh thám ở Hoa Kỳ và giải Gold Dagger của Hiệp hội các nhà văn trinh thám vương quốc Anh, qua việc xây dựng những cốt truyện cực kỳ mạnh mẽ mà lại không giống như các quyển tiểu thuyết trinh thám thường tình. Dù gì đi nữa, những cuốn sách của Ruth Rendell đều mang dấu ấn cá nhân sâu sắc, bởi vì nhìn chung tác giả đã chấp bút sáng tác với rất nhiều tâm huyết. Có thể nói, Ruth Rendell đã nối bước bậc tiền bối Agatha Christie qua việc nâng thể loại truyện trinh thám lên hàng tác phẩm văn học thực thụ ».

  4. 21

    Nhạc Nhật lời Việt : Masahiko Kondō, khúc ca chiều tà tan vỡ tình ta

    Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào. Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào. Sinh trưởng (1964) tại Yokohama, tỉnh Kanagawa, Masahiko Kondō khởi đầu sự nghiệp ca hát và diễn xuất vào cuối thập niên 1970, thời ông gia nhập công ty Johnny & Associates, một trong những tập đoàn giải trí quan trọng của Nhật Bản.  Thời niên thiếu, ông là thành viên của bộ ba Tanokin Trio (cùng với hai ngôi sao khác là Toshihiko Tahara và Yoshio Nomura). Nhóm này đã gặt hái được khá nhiều thành công nhờ phim truyền hình và show ca nhạc. Vào năm 17 tuổi, Masahiko Kondō rời khỏi nhóm và chính thức ra mắt đĩa đơn solo đầu tiên (Sneaker Blues). Ca khúc này ngay lập tức đứng đầu bảng xếp hạng Oricon, ông trở thành nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành lấy vị trí quán quân ngay từ khi ra mắt đĩa hát đầu tay. Trong suốt thập niên 1980, Masahiko Kondō  ghi âm hàng loạt bản hit đình đám như « Gingiragin ni Kuchiganai » và « Foolish ». Nhưng khi nhắc đến những giai điệu ăn khách của giọng ca này từng được chuyển sang lời Việt, tác phẩm nổi tiếng và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất chính là ca khúc « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà) do Koji Makaino và Akira Otsu sáng tác vào năm 1989. Ngoài xứ hoa anh đào, giai điệu « Yūyake no Uta » còn thành công trên thị trường châu Á nhờ được phóng tác nhiều lần sang tiếng Hoa, lập kỷ lục số bán qua hai phiên bản nhạc pop tiếng Quảng Đông tại Hồng Kông (Cantopop). Đầu tiên là nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn và kế đến nữa là « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương.  Năm 1988, vào lúc Trần Tuệ Nhàn chuẩn bị giã từ làng nhạc, hãngđĩa PolyGram đã cho phát hành một số ca khúc « chia tay » người hâm mộ, trong đó có nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » (Muôn ngàn bài hát) do tác giả Lâm Chấn Cường đặt lời tiếng Quảng Đông và hoàn chỉnh vào đầu năm 1989. Cảm xúc trầm lắng u buồn, cùng giai điệu từ biệt vấn vương đã giúp bài hát này thành công nhanh chóng trên thị trường.  Còn trong trường hợp của Mai Diễm Phương, vào thời ấy, cô đang quay tập ba của bộ phim « Bản sắc anh hùng » (A better tomorrow III) và do Mai Diễm Phương lúc bấy giờ có quan hệ tình cảm với nam danh ca Nhật Bản Masahiko Kondō (người ghi âm bản nhạc gốc), cho nên cô mới đề nghị lấy bài hát này làm ca khúc chủ đề cho bộ phim. Tác giả Trần Thiếu Kỳ đã viết lại thành nhạc phẩm « Tịch dương chi ca » (Bài ca hoàng hôn) và chỉnh sửa lời bài hát sao cho phù hợp với cốt truyện.  Dù có cùng một giai điệu gốc và được phát hành hầu như vào cùng một thời điểm, nhưng cả hai bản cover « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn (Priscilla Chan) và « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương (Anita Mui) đều trở thành những nhạc phẩm kinh điển của dòng nhạc pop tiếng Quảng Đông. Một chi tiết thú vị khác là nam ca sĩ Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung) cũng từng hát lại bài này, cho dù anh không xuất hiện trong tập phim thứ 3 của  « Bản sắc anh hùng », bên cạnh Mai Diễm Phương, Châu Nhuận Phát và Lương Gia Huy. Khi du nhập vào Việt Nam vào đầu thập niên 1990, ca khúc đã được đặt thêm nhiều lời Việt khác nhau. Bài đầu tiên có tựa đề « Tan vỡ » là của tác giả Minh Tâm do Cẩm Ly & Tài Linh thể hiện. Lời thứ nhì « Chuyện tình ta tan vỡ » là của tác giả Nhật Ngân. Đây là phiên bản lời Việt quen thuộc nhất với người hâm mộ, từng được nhiều giọng ca nổi tiếng như Mỹ Tâm, Quang Hà, Mai Tiến Dũng và gần đây hơn nữa là Hà Nhi và Quốc Thiên đều có hát lại. Phiên bản thứ ba « Chỉ có em trong tim » là của tác giả Khúc Lan, qua phần trình bày của Ý Nhi và Kenny Thái, dựa theo phiên bản tiếng Anh « There's only you in my heart ». Trong bản gốc, Masahiko Kondō nhìn lại những mối tình sâu đậm đã qua cũng như những thăng trầm trong cuộc đời. Cảnh vật trong ánh tịch dương năm nào vẫn chưa thay đổi, chỉ có tâm hồn khi vắng một người, mới càng cảm thấy đơn côi.  Hoàng hôn vắng, tình đã xa Bốn mùa thu đông xuân hạ Khi xưa mát dịu chiều tà Nay sao rát bỏng làn da Tưởng chừng nắng còn trên má Ngờ đâu ướt đẫm lệ nhòa 

  5. 20

    Từ Bangkok đến Paris : Hành trình của trang phục hoàng cung Thái Lan

    Dưới dấu ấn của hoàng hậu Sirikit và sự hợp tác với nhà thiết kế Pháp Pierre Balmain, trang phục Thái Lan được nâng tầm thành thời trang cao cấp và trở thành biểu tượng văn hóa trong các hoạt động ngoại giao quốc tế. Gần 200 bộ trang phục và hiện vật hoàng gia Thái Lan được giới thiệu trong triển lãm “Thời trang hoàng cung” tại Bảo tàng Nghệ Thuật Trang trí Paris từ ngày 13/05 đến 01/11/2026. Phần lớn hiện vật đến từ Bảo tàng Dệt may Hoàng hậu Sirikit (QSMT) tại Bangkok, trong đó có khoảng 100 bộ do Pierre Balmain thiết kế và khoảng 40 bộ từng được hoàng hậu Sirikit sử dụng. Ngoài ra, nhiều hiện vật, bản vẽ, tư liệu lưu trữ từ Nhà Balmain, Lesage và các đối tác cũng góp phần làm nổi bật sự kết hợp giữa nghệ thuật thời trang Pháp, kỹ thuật thủ công tinh xảo và di sản văn hóa hoàng gia Thái Lan. Thời trang hoàng gia Thái Lan đã phát triển như thế nào từ thập niên 1960 ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn bà Béatrice Quette, giám tuyển triển lãm, phụ trách bộ sưu tập châu Á và Hồi giáo tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí (Musée des Arts décoratifs). RFI : Gần 200 trăm bộ trang phục và phụ kiện đặc sắc từ cung đình Thái Lan được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí trong triển lãm “Thời trang hoàng cung”. Tựa đề giàu ý nghĩa này muốn nhấn mạnh điều gì ? Giữa “thời trang” và “hoàng cung” có mối quan hệ như thế nào ? Béatrice Quette : “Thời trang hoàng cung” là tựa đề chính của triển lãm, những cũng có tựa đề phụ là “Thời trang cao cấp và truyền thống tại hoàng cung Thái Lan” giúp khám phá mối quan hệ giữa thời trang và hoàng gia thông qua vai trò của hoàng hậu Sirikit trong việc khôi phục trang phục truyền thống Thái Lan. Bà muốn xây dựng hình ảnh một hoàng hậu trẻ trung, hiện đại nhưng vẫn mang đậm dấu ấn dân tộc trong chuyến công du cùng quốc vương Rama IX tới 14 quốc gia châu Âu và Hoa Kỳ vào năm 1960. Để đáp ứng yêu cầu vừa phù hợp với nghi thức ngoại giao quốc tế, vừa thể hiện bản sắc Thái Lan, từ những năm 1950, hoàng hậu Sirikit đã bắt đầu nghiên cứu và phục hồi trang phục cung đình truyền thống, vốn bị mai một từ đầu thế kỷ XX. Bà tìm hiểu tư liệu lưu trữ, hình ảnh về các hoàng hậu, công chúa từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đặc biệt dưới triều vua Rama V (ông nội của vua Rama IX), sau đó kết hợp những yếu tố truyền thống với kỹ thuật may đo hiện đại để tạo ra trang phục mang phong cách vừa thanh lịch, vừa thể hiện rõ bản sắc Thái Lan. Mục tiêu của bà là xây dựng một biểu tượng trang phục quốc gia tương tự như kimono của Nhật Bản hay sari của Ấn Độ. Nội dung triển lãm được xây dựng theo hai hướng chính. Thứ nhất, thời trang được nhìn nhận như một phương tiện ngoại giao văn hóa, hay “quyền lực mềm”, giúp quảng bá hình ảnh và bản sắc Thái Lan. Thứ hai, triển lãm giới thiệu quá trình hình thành tám kiểu trang phục chính thức của hoàng hậu Sirikit, đồng thời làm nổi bật sự kết hợp giữa thời trang cao cấp phương Tây và nghệ thuật truyền thống Thái Lan thông qua mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa bà và nhà thiết kế người Pháp Pierre Balmain. RFI : Có thể nhận thấy sự thanh lịch và tinh tế của thời trang Pháp trong các trang phục hoàng gia Thái Lan. Đồng thời, trang phục truyền thống Thái Lan cùng các kỹ thuật dệt và nhuộm thủ công cũng đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, được biết đến trong giới thời trang cao cấp của Pháp. Như bà vừa đề cập một phần, người có vai trò quyết định trong quá trình đó chính là hoàng hậu Sirikit. Bà đã góp phần như thế nào vào sự phát triển và quảng bá thời trang Thái Lan trên trường quốc tế ? Béatrice Quette : Hoàng hậu Sirikit đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bà rất yêu thích thời trang, nhưng không đơn thuần chỉ là mặc những trang phục đẹp mà còn xem thời trang là công cụ để giữ gìn văn hóa. Bên cạnh những chuyến công du ngoại giao tới phương Tây, bà thường xuyên đi khắp đất nước để tìm hiểu đời sống của người dân. Qua những chuyến đi này, bà nhận thấy tại nhiều ngôi làng, đôi khi là những vùng nông thôn còn khó khăn, các nghề thủ công như dệt vải, đan lát và nhiều nghề truyền thống khác đã tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân, đặc biệt là phụ nữ, bên cạnh công việc nông nghiệp. Ban đầu, hoàng hậu Sirikit đặc biệt quan tâm đến nghề dệt, nhất là kỹ thuật Ikat, hay còn gọi là Mat mii trong tiếng Thái. Bà nhận thấy mỗi vùng của Thái Lan, từ miền Nam, miền Đông đến Đông Bắc, đều có những kỹ thuật dệt đặc trưng với giá trị nghệ thuật và trình độ thủ công cao. Sau đó, bà tiếp tục chú ý đến nghề dệt gấm, loại hình dệt kết hợp các sợi vàng hoặc bạc và chịu ảnh hưởng từ truyền thống dệt của Ấn Độ. Để hỗ trợ các nghệ nhân, ban đầu bà mua các sản phẩm thủ công, sau đó thành lập Quỹ SUPPORT vào năm 1976 nhằm đào tạo, tư vấn và hỗ trợ phát triển nghề truyền thống. Quỹ không chỉ giúp các làng nghề hiện có mà còn khuyến khích những địa phương chưa có truyền thống thủ công phát triển nghề mới để tạo thêm sinh kế và bảo tồn di sản. Theo bà, nếu trang phục cung đình truyền thống biến mất thì các kỹ thuật dệt quý giá cũng sẽ dần mai một. Nhờ những nỗ lực đó, hoàng hậu Sirikit góp phần phục hồi và hiện đại hóa trang phục cung đình, đồng thời tạo sinh kế cho người dân. Bà cũng hỗ trợ nhiều nghề thủ công khác như chế tác kim hoàn, khảm kim loại, nhuộm đen bạc, vẽ quạt và đan lát bằng tre hoặc cỏ Yan Lipao. Đặc biệt, bà kết hợp các kỹ thuật truyền thống này với thiết kế phụ kiện thời trang, qua đó nâng cao giá trị và quảng bá sự tinh xảo của nghề thủ công Thái Lan đến công chúng. RFI : Có thể thấy là truyền thống này vẫn đang được hoàng gia Thái Lan tiếp nối ? Béatrice Quette : Di sản của hoàng hậu Sirikit vẫn được tiếp nối thông qua công chúa Sirivannavari, người tích cực bảo tồn và phát triển thời trang truyền thống Thái Lan. Được đào tạo về thiết kế thời trang tại Anh và Trường Chambre Syndicale ở Paris, công chúa không chỉ thiết kế mà còn trực tiếp làm việc với các nghệ nhân để cải tiến kỹ thuật dệt, điều chỉnh khung cửi, cập nhật màu sắc và mẫu mã, giúp sản phẩm truyền thống đáp ứng nhu cầu hiện đại nhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa. Công chúa Sirivannavari cũng tiếp tục quảng bá tám kiểu trang phục truyền thống Thái Lan do hoàng hậu Sirikit khởi xướng, tạo nên hệ thống trang phục phù hợp với nhiều cấp độ nghi lễ, từ những dịp thông thường đến những sự kiện long trọng, mang đậm bản sắc dân tộc. Đồng thời, công chúa là người thúc đẩy hồ sơ đề cử bộ trang phục truyền thống Chud Thai lên UNESCO để được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hiện hồ sơ vẫn đang chờ UNESCO xem xét. RFI : Giữa thời trang cao cấp Pháp, đặc biệt là giữa nhà tạo mẫu Pierre Balmain, và triều đình Thái Lan có mối liên hệ đặc biệt qua nhiều thập kỷ. Sự hợp tác này đã được giới thiệu như thế nào trong triển lãm ? Béatrice Quette : Hoàng hậu Sirikit giữ vai trò đặc biệt trong lịch sử giao lưu văn hóa giữa Pháp và Thái Lan, dù câu chuyện này chưa được nhiều người biết đến ngoài giới nghiên cứu về hoàng gia Thái Lan và nhà mốt Balmain. Tôi biết được thêm rất nhiều về mối quan hệ này khi làm việc với các đồng nghiệp Thái Lan. Mối quan hệ đặc biệt đó được hình thành từ cuộc gặp đầu tiên giữa bà và nhà thiết kế Pierre Balmain vào năm 1960, khi ông quá cảnh tại Bangkok trên đường từ Úc trở về. Thời điểm đó, hoàng hậu đang tìm kiếm một nhà thiết kế Pháp để chuẩn bị tủ trang phục phục vụ các chuyến công du ngoại giao. Cuộc gặp nhanh chóng mở đầu cho sự hợp tác lâu dài và một tình bạn bền chặt giữa hai người, kéo dài đến khi Pierre Balmain qua đời. Sau đó, Eric Mortensen, trợ lý và người kế nhiệm Balmain, tiếp tục đảm nhận việc thiết kế trang phục cho hoàng hậu, giúp duy trì mối liên kết giữa bà với nhà mốt Balmain. Đây là trường hợp hiếm có trong lịch sử thời trang hoàng gia, bởi vì cho dù nhiều thành viên hoàng gia trên thế giới thường gắn bó với một nhà thiết kế yêu thích, rất ít người duy trì sự hợp tác bền vững như hoàng hậu Sirikit. Trong hơn ba thập niên, dù đôi khi sử dụng thiết kế của các nhà mốt khác, Balmain vẫn luôn là lựa chọn ưu tiên của bà. RFI : Trong triển lãm, công chúng có thể thấy những thiết kế của Pierre Balmain, các kỹ thuật và chất liệu dệt truyền thống của Thái Lan được đưa vào các bộ trang phục này như thế nào ? Béatrice Quette : Khách tham quan có thể thấy được sự kết hợp hài hòa giữa thời trang cao cấp Pháp và nghề dệt truyền thống Thái Lan. Nhiều bộ trang phục được Balmain sáng tạo từ những tấm lụa Thái Lan do hoàng hậu gửi sang Paris. Từ những chất liệu này, ông thiết kế mẫu mới hoặc điều chỉnh những thiết kế có sẵn theo yêu cầu của bà. Mỗi mùa, Balmain đều giới thiệu các bộ sưu tập mới, trong đó một số mẫu được đặt tên theo Sirikit hoặc Bangkok. Tuy nhiên, hoàng hậu thường lựa chọn và thay đổi các chi tiết để trang phục phù hợp hơn với phong cách cá nhân, như việc yêu cầu chỉnh sửa màu sắc hoặc kiểu dáng của một số thiết kế. Sự hợp tác giữa hai bên diễn ra rất chặt chẽ. Hoàng hậu cung cấp nhiều chất liệu truyền thống như lụa gấm, lụa Ikat để kết hợp với kỹ thuật may, thêu phương Tây và các họa tiết lấy cảm hứng từ nghệ thuật Thái Lan. Một số trang phục còn sử dụng vật liệu trang trí độc đáo như cánh bọ cánh cứng, kim sa và hạt cườm. Các chất liệu được gửi từ Bangkok đến Paris để thực hiện tại xưởng Balmain và Nhà Lesage, tạo nên sự hợp tác bền chặt giữa hoàng hậu Sirikit, Pierre Balmain và Nhà Lesage. RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn bà Béatrice Quette, giám tuyển triển lãm, phụ trách bộ sưu tập châu Á và Hồi giáo tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí.

  6. 19

    Nhạc Pháp lời Việt : Lại gần hôn anh, phiên bản tiếng Pháp đầu tiên là của ai ?

    Cùng với "Un canto a Galicia", nhạc phẩm "Abrázame" là giai điệu đã giúp cho nam danh ca Julio Iglesias chinh phục thị trường quốc tế. Được trích từ album phòng thu thứ 9 (El Amor / Tình yêu) phát hành vào năm 1975, bài hát này từng được dịch sang 12 ngôn ngữ khác nhau, kể cả tiếng Anh, Hy Lạp hay tiếng Nhật. Còn trong tiếng Việt, giai điệu này nghe rất quen thuộc với tựa đề "Lại gần hôn anh".  Khi chấp bút đặt ca từ lời Việt lãng man trữ tình, nồng nàn tha thiết, nhạc sĩ Phạm Duy chủ yếu dựa vào phiên bản tiếng Pháp "Viens m'embrasser" do Michel Jourdan sáng tác vào năm 1981. Trong nguyên tác, bài hát tiếng Tây Ban Nha do Rafael Ferro soạn nhạc, Julio viết lời. Thế nhưng, bản phóng tác tiếng Pháp đầu tiên không phải do Julio Iglelias trình bày mà lại do một gương mặt trứ danh khác ghi âm : đó là nam danh ca Richard Anthony.  Sinh trưởng tại Ai Cập trong một gia đình giàu có người gốc Syria, Richard Anthony thành danh vài năm trước thế hệ thần tượng Françoise Hardy, Christophe và Johnny Hallyday. Theo lời kể của Sylvie Vartan, nhạc phẩm Nouvelle Vague (Làn sóng mới) dịch từ ca khúc "Three Cool Cats" của cặp bài trùng Jerry Leiber và Mike Stoller, đã  khởi xướng trào lưu phóng tác các bản nhạc rock và twist ăn khách tiếng Anh, tạo ra phong trào nhạc trẻ tại Pháp đầu thập niên 1960.  Đến những năm 1970, Richard Anthony không còn hát nhạc trẻ mà lại chuyển sang hát nhạc tình. Khi không bận lưu diễn, ông thường về miền nam Tây Ban Nha nghỉ ngơi, nơi gia đình ông có một biệt thự sang trọng tại trạm nghỉ mát Marbella. Cho đến một ngày kia, ông tình cờ được nghe trên đài phát thanh bài hát "Abrazame" của Julio. Do rất thích giai điệu này, cho nên ông mới gọi điện về Paris yêu cầu nhóm tác giả nổi tiếng nhất thời bấy giờ chuyển bài hát của Julio Iglesias sang tiếng Pháp. Người đầu tiên nhận lời chính là Pierre Delanoë, ông từng thành công nhờ viết lời bài hát "La Maritza" (Dòng sông tuổi nhỏ) cho Sylvie Vartan và "Et si tu n'existais pas" (Nếu đời này vắng anh / Một mai không có anh) cho Joe Dassin. Khi chấp bút viết lời tiếng Pháp, Pierre Delanoë chuyển bài "Abrázame" thành nhạc phẩm "Embrasse Moi" (Hãy hôn anh). Cách đặt lời của Pierre Delanoë tôn trọng ngữ pháp của bản nhạc gốc, trong cách dùng thức mệnh lệnh một cách trực tiếp. Richard Anthony thu âm bài này vào năm 1977, tức 4 năm trước phiên bản tiếng Pháp của Julio Iglesias.  Về phần nam danh ca Tây Ban Nha, nhiều năm  sau khi thành công với album phòng thu thứ 9, Julio mới bắt tay thực hiện tuyển tập chọn lọc "Fidèle" (Chung tình) dành cho thị trường Pháp ngữ. Lần này, Julio không dùng bản phóng tác có sẵn của Delanoë mà lại nhờ nhóm sáng tác Claude Lemesle và Michel Jourdan chuyển sang tiếng Pháp các bài hát ăn khách của mình. Album tiếng Pháp của Julio được phát hành vào năm 1981, bao gồm nhiều bản nhạc nổi tiếng như Khúc tình dối gian (Les dérobades) hay Tình yêu còn mãi (Un jour tu ris, un jour tu pleures). Riêng nhạc phẩm "Abrázame" được Michel Jourdan chuyển thành bài hát "Viens m'embrasser", tạo ra một khoảng cách nhất định giữa hai nhân vật chính, nếu muốn hôn nhau thì phải xích lại gần bên người tình. Có thể nói, phiên bản phóng tác tiếng Pháp đầu tiên là của Pierre  Delanoë do Richard Anthony trình bày, còn phiên bản thứ nhì là của Michel Jourdan do chính Julio ghi âm. Cả hai bài hát đều vô cùng trữ tình ướt át, nhưng bản ghi âm tiếng Pháp của Julio Iglesias vẫn quen thuộc hơn với giới yêu nhạc. Trong cả hai phiên bản tiếng Pháp, "Lại gần hôn anh" tựa như lời khẩn cầu tha thiết của một người tình khi phải đối mặt với cảnh chia ly, chỉ mong được ôm trong vòng tay như thuở ban đầu, một cách để tự dối mình khi mai này đành phải mất nhau, nhưng miễn sao làm vơi nhẹ nỗi đau, cho hồn quên nhức nhối, cho tim bớt nghẹn ngào.

  7. 18

    Sherlock Holmes, thám tử đầu tiên được đưa vào tủ sách Pháp La Pléiade

    Gần 150 năm sau khi ra đời dưới ngòi bút của nhà văn Arthur Conan Doyle, thám tử Sherlock Holmes vẫn giữ nguyên sức cuốn hút mạnh mẽ. Ngoài là nguồn cảm hứng bất tận cho điện ảnh và truyền hình, nhân vật này còn trở thành một huyền thoại văn học. Tại Pháp, chỉ có các tác phẩm quan trọng hàng đầu mới được đưa vào bộ sưu tập La Bibliothèque de la Pléiade. Gần đây, nhà xuất bản Gallimard đã cho xuất bản trong tủ sách có uy tín của mình bộ toàn tập Sherlock Holmes. Tính tổng cộng là 2.500 trang chia thành 2 tập sách dày, bao gồm bốn cuốn tiểu thuyết và 60 truyện ngắn. Bộ toàn tập này được phát hành kèm với một quyển tiểu sử minh họa dày hơn 250 trang. Đây là lần đầu tiên, tủ sách La Pléiade của nhà xuất bản Gallimard dành một quyển « tiểu sử » đặc biệt, kể lại nguồn gốc của một nhân vật hư cấu cũng như những câu chuyện bên lề và tầm ảnh hưởng của Sherlock Holmes trong dòng văn hóa đại chúng. Điều mà Hercule Poirot và Miss Marple của nữ hoàn tiểu thuyết trinh thám Agatha Christie vẫn chưa thực hiện được. Tác giả quyển tiểu sử "Sherlock Holmes" là ông Baudouin Millet, giảng viên chuyên khoa Văn học Anh và Dịch thuật tại Đại học Lumière Lyon II. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Baudouin Millet phác họa vài nét chính của thám tử Sherlock Holmes. Sherlock Holmes là một thiên tài có khả năng giải quyết các vấn đề trong vụ án một cách dễ dàng đến mức khó tin, thậm chí ông còn hay nói đùa, có thể làm bẽ mặt những viên thanh tra của Scotland Yard bằng những câu nói như : "Chuyện đơn giản thôi!" hoặc "Anh chẳng hiểu gì cả'', ''Bộ não của anh sao mà nhỏ bé thế''. Có người cho là Sherlock Holmes có một bộ óc xuất chúng, có tài suy luận mạch lạc sắc bén, dựa trên nền tảng logic chặt chẻ, chứ không phỏng đoán mơ hồ. Nhờ vậy, ông giải quyết được các manh mối phức tạp, phá án nhanh để tìm ra thủ phạm. Nhưng theo tôi, Sherlock Holmes có một tư tưởng cởi mở phóng khoáng thiên về nghệ thuật hơn là khoa học. Để phá án, nhân vật này không ngại phá vỡ một số quy tắc, thoát ra ngoài lối suy nghĩ cứng nhắc. Ngoài ra, lối tiếp cận của ông thường được so sánh với một nhà khoa học pháp y, vì những phương pháp giám định của ông đã báo trước các kỹ thuật hiện đại của giới cảnh sát điều tra sau này. Ngay tại căn nhà của ông ở số 221B phố Baker Street, Sherlock Holmes thường hay tiến hành thử nghiệm dùng phương pháp hóa học để đi tìm vết tích bằng chứng, nhưng đồng thời ông cũng phải biết suy luận chặt chẽ để vạch trần tâm lý kẻ phạm tội. Một thiên tài xuất chúng chưa chắc gì đã dễ sống chung. Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên vào năm 1887 trong truyện "A Study in Scarlet" cho đến những chuyến phiêu lưu cuối cùng được xuất bản năm 1927, trong đó có vụ án nổi tiếng nhất của ông là "The Hound of the Baskervilles" (1902), có thể nói Sherlock Holmes không phải là một người dễ mến với bà chủ nhà (Mrs Hudson) cũng như với người bạn và cộng sự của mình là bác sĩ John Watson. Trong truyện, Sherlock Holmes có tánh tình thay đổi khác thường. Theo tác giả Baudouin Millet, trong mắt của giới chuyên khoa tâm thần học thời nay, nhân vật tiểu thuyết này có triệu chứng của một người bị rối loạn lưỡng cực : Vâng, thuật ngữ rối loạn lưỡng cực chỉ mới được công nhận gần đây. Trước đó, giới bác sĩ từng nhắc đến chứng bệnh ''hưng trầm cảm'' cho đến những năm 1990. Dựa theo cách phân loại mới về các chứng bệnh tâm thần, các chuyên gia nói về triệu chứng rối loạn lưỡng cực khi những giai đoạn cực kỳ hưng phấn đột nhiên biến thành những khoảnh khắc vô cùng trầm cảm. Những đột biến nội tâm này thường không có dấu hiệu báo trước. Trong truyện Sherlock Holmes, câu chuyện được kể theo góc nhìn của bác sĩ Watson và dĩ nhiên ông Watson không dùng chữ rối loạn lưỡng cực vì thuật ngữ này chưa ra đời. Nhưng bác sĩ Watson lại mô tả một cách rõ ràng các triệu chứng hưng cảm rồi trầm cảm của Sherlock Holmes, đặc biệt là trong quyển sách ''The Sign of Four'' (1890). Cũng cần nói rõ, sinh thời nhà văn người Anh Arthur Conan Doyle ngoài đời là một bác sĩ và nhân vật Watson có nhiều nét giống tác giả. Không phải ngẫu nhiên mọi câu chuyện về Sherlock Holmes là do bác sĩ John Watson kể lại, nhân vậy này biết rõ các vấn đề y học. Xuyên qua các quyển tiểu thuyết, độc giả có thể thấy vị thám tử tài ba luôn phải tìm cách xoa dịu những mối dằn vặt trong nội tâm, kể cả dùng rượu mạnh hay ma túy, bất kể bác sĩ Watson có đồng ý hay không. Trong quyển tiểu sử minh họa do Gallimard xuất bản, độc giả vẫn có thể khám phá nhiều chi tiết mới trong cuộc đời của Sherlock Holmes. Nhân vật này sau mỗi lần phá án thường thốt lên câu nói : ''Elementary, my dear Watson" có nghĩa là ''Đơn giản thôi, anh bạn Watson ơi''. Nhưng theo ông Baudouin Millet, câu nói này không phải là của nhà văn Arthur Conan Doyle. Chuyên gia dịch thuật văn học Anh giải thích : Sự thật là trong các tác phẩm của Arthur Conan Doyle, thám tử Sherlock Holmes chưa từng nói câu "Elementary, my dear Watson" (Đơn giản thôi, anh bạn Watson ơi). Trong truyện, ông dùng nhiều lần chữ "elementary" (chuyện đơn giản thôi) để chọc tức viên thanh tra Lestrade của Scotland Yard. Đoạn đối thoại gần giống nhất nằm trong truyện ngắn "The Adventure of the Crooked Man" (1893). Sau khi kết thúc điều tra, bác sĩ Watson thốt lên một câu ngắn gọn  "Excellent!" (Tuyệt vời!), Sherlock Holmes liền đáp lại: "Elementary" (Đơn giản thôi). Vậy thì câu nói kinh điển ''Elementary, my dear Watson) từ đâu mà có ? Thực ra, câu thoại này xuất phát từ các bản phóng tác, chuyển thể tiểu thuyết gốc thành kịch hay phim. Vào năm 1915, nhà văn hài kịch người Anh P.G. Wodehouse lần đầu tiên viết chính xác câu nói này trong một quyển tiểu thuyết hài hước châm biếm (mang tựa đề Psmith, Journalist). Bộ phim có tiếng nói "The Return of Sherlock Holmes" (1929), do Clive Brook vào vai thám tử tài ba là tác phẩm đầu tiên chính thức cho thấy Sherlock Holmes dùng câu nói này trên màn ảnh lớn. Cũng nhờ vào sự thành công vượt bực của các tác phẩm điện ảnh vào những năm 1930–1940 sau đó (do Basil Rathbone đóng vai chính), câu nói này đã được gắn liền với nhân vật Sherlock Holmes cho đến tận bây giờ. Ngày nay, trong nhiều bản phóng tác truyền hình hay điện ảnh, khán giả luôn chờ đợi Sherlock Holmes thốt lên câu nói "Elementary, my dear Watson". Trong mắt công chúng, nó đã trở thành một biểu tượng chính thức cho dù tác giả Arthur Conan Doyle chưa bao giờ viết ra. Về đời sống cá nhân và quan hệ tình cảm, quyển tiểu sử cho biết tác giả Arthur Conan Doyle không tiết lộ gì nhiều về gia cảnh của Sherlock Holmes. Những chi tiết đời tư của vị thám tử, chủ yếu là do suy diễn hay bịa đặt thêm qua phim ảnh. Về mặt tình cảm, quyển tiểu sử có nhắc đến mối tình ngắn ngủi giữa Sherlock Holmes với một người phụ nữ Mỹ tên là Irene Adler, nhân vật này xuất hiện trong truyện ngắn "A Scandal in Bohemia" và từng được Sherlock yêu mến, quý trọng. Sherlock Holmes chỉ gặp Irene Adler một lần duy nhất, nhưng nhân vật này đã thay đổi cuộc đời của ông, hay ít ra cô ấy dã thay đổi quan niệm của Sherlock Holmess về phụ nữ nói chung. Trong một thời gian dài, Sherlock được mô tả như một người đàn ông ''ghét phụ nữ'' do ông sinh trưởng trong một xã hội trọng nam khinh nữ. Bác sĩ Watson không dùng từ ''ghét phụ nữ'', mà chủ yếu nói rằng Sherlock Holmes thường hay chế giễu người phụ nữ kém thông minh. Chỉ sau khi Sherlock gặp Irene Adler, ông mới bắt đầu coi trọng phụ nữ, xem họ có tài năng ngang hàng với mình, hoặc ít ra trong mắt ông, Irene Adler là một ''kỳ phùng địch thủ'' biết đi những nước cờ cao, biết dùng những chiêu bí hiểm. Tuy không công khai thừa nhận, nhưng Sherlock thầm yêu cô Irene và ông cảm thấy ghen tị với tình nhân cũ của cô là hoàng tử Bohemia. Có một điều thú vị, là nhân vật này tuy chỉ xuất hiện một lần trong truyện ngắn, nhưng sau đó lại đóng một vai trò quan trọng hơn rất nhiều, thông qua các bản phóng tác điện ảnh hay truyền hình. Thám tử Sherlock Holmes đã đem lại cho nhà văn Arthur Conan Doyle tiền tài và danh vọng, nhưng vì nhân vật này có một cái bóng quá lớn, cho nên đã che khuất phần còn lại trong sự nghiệp sáng tác của Conan Doyle. Với thời gian, Sherlock Holmes vượt ra ngoài tầm kiểm soát của tác giả, danh tiếng của vị thám tử này còn cao hơn cả người đã sinh ra mình. Có lần nhà văn Conan Doyle cho biết ông ghét Sherlock vì nhân vật này hạn chế việc phổ biến nhiều tiểu thuyết hay với những nhân vật khác, do vậy Conan Doyle  đã tìm cách ''giết'' nhân vật Sherlock trong truyện, nhưng ông lại bất thành. Quyển tiểu sử minh họa trong tủ sách Pléiade, quyển đầu tiên dành riêng cho một nhân vật hư cấu, đã thuật lại quan hệ khá phức tạp giữa Conan Doyle và Sherlock Holmes. Nhân vật huyền thoại này tiếp tục làm say mê nhiều thế hệ qua phim ảnh hay sách truyện. Đứa con tinh thần của nhà văn nổi tiếng từ lâu đã có cuộc sống riêng.

  8. 17

    Nhạc Nhật lời Việt : Marcia và nhạc phẩm  "Khi thành phố vắng anh"

    Đất nước Brazil là nơi có đông đảo người Nhật định cư. Xuất thân từ cộng đồng hải ngoại, nhiều nghệ sĩ gốc Nhật đã thành danh nhờ tài nghệ sáng tác hay biểu diễn trên sân khấu. Đó là trường hợp của tay đàn ghi ta Mateus Asato, nhạc trưởng Naomi Munakata, tác giả Lisa Ono, ca sĩ Carlos Toshiki thành viên sáng lập nhóm Omega Tribe và nhất là Marcia, một trong những ngôi sao nhạc trẻ những năm 1990. Sinh trưởng tại thành phố São Paolo, Marcia xuất thân từ một gia đình người Nhật định cư tại Brazil từ nhiều đời qua. Vào năm 16 tuổi, cô bắt đầu sự nghiệp trong làng giải trí sau khi về hạng nhì nhân một cuộc thi tuyển lựa tài năng mới năm 1985 (Kayou Senshuken) với sự tài trợ của đài truyền hình TBS, thuộc tập đoàn truyền thông Tokyo Broadcasting System ở vùng Kantō.  Do chưa đến tuổi trưởng thành, nên Marcia được ông nội đưa từ Brazil sang Nhật Bản học tập.Thời gian đầu, cô học hát dưới sự hướng dẫn của nhà soạn nhạc kỳ cựu Kosho Inomata và học lớp diễn xuất với thầy Sakamoto Fuyumi.  Đầu năm 1989, Marcia vừa tròn 20  tuổi cho ra mắt đĩa hát đầu tay với tựa đề "Furimukeba Yokohama" (Nhìn lại Yokohama). Do hai tác giả đồng sáng tác : Kosho Inomata (nhạc) Eiji Takino (lời), đĩa đơn này đã mang về cho Marcia nhiều giải thưởng quan trọng, trong đó có giải dành cho Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất trong năm (Nihon Record Taishou). Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được tác giả Khúc Lan đặt lời thành nhạc phẩm "Mộng sầu cô đơn". Từ những năm 1990 trở đi, Marcia ngày càng trở nên nổi tiếng. Tên tuổi của cô được biết đến rộng rãi không những qua đĩa hát mà còn qua phim ảnh, show truyền hình, chương trình tạp kỹ hay các vở nhạc kịch. Còn trên phương diện âm nhạc, Marcia thành công với khá nhiều bài hát trích từ 12 album phòng thu thực hiện trong vòng hai thập niên liền (1989-2009). Trong số những bài hát ăn khách nhất của Marcia, ngoài nhạc phẩm "Mộng sầu cô đơn", còn có "My love goodbye" (Tạm biệt người tình) và nhất là "Dakishimete" (trong tiếng Nhật có nghĩa là Hãy ôm em). Bài này từng được chuyển sang tiếng Việt thành nhạc phẩm "Khi thành phố vắng anh". Một số nhà phê bình cho rằng lối thể hiện của Marcia mang nhiều ảnh hưởng của diva Đài Loan Đặng Lệ Quân, trong  cách nhả chữ thanh thoát nhẹ nhàng, tao nhã tơ vương. Nhưng thật ra, Marcia lại chịu ảnh hưởng của thế hệ trước đó nữa, qua giọng ca thần tượng Hibari Misora, người mà Đặng Lệ Quân thường hay nghe thời niên thiếu.  Một chi tiết thú vị là tên thật của danh ca Hibari Misora là Kazue Kato. Gia đình Marcia rất hâm mộ giọng ca này cho nên đã chọn tên thật của thần tượng để đặt cho cô con gái. Tên gọi đầy đủ của Marcia chính là Marcia Kazue Nishiie. Chi tiết thú vị thứ nhì là Marcia đã ra đời vào ngày 14 tháng Hai năm 1969. Do sinh nhật của cô trùng với ngày Lễ Tình nhân, cho nên Marcia thường hay nói đùa rằng không hiểu vì sao từ khi còn nhỏ, cô chỉ thích nghe và thích hát nhạc tình :  Ngước mắt nhìn hoàng hôn  Mà nghe tim chợt buồn  Tình chẳng còn ham muốn  Cho hồn càng buồn hơn    Nhìn những hạt mưa tuôn  Trên khung cửa mù sương Tương lai nhoà vết xoá  Mờ chân trời yêu thương   Nhịp mưa khúc nhạc buồn  Điệu bossa phiền muộn  Hãy cho nhau lần cuối Đắm đuối ngàn nụ hôn

  9. 16

    Pháp: Những giai thoại thú vị của Guillaume Gomez, đầu bếp Điện Elysée

    Hiếm có đầu bếp Pháp nào lại có nhiều chuyện thú vị để kể như ông Guillaume Gomez. Vào năm 25 tuổi, ông trở thành gương mặt trẻ nhất được trao tặng danh hiệu « Nghệ nhân xuất sắc nhất nước Pháp » (Meilleur Ouvrier de France). Vài năm sau khi được chính thức tuyển dụng vào Điện Élysée ( phủ tổng thống Pháp ), ông trở thành bếp trưởng, phục vụ bốn đời tổng thống Pháp Chirac, Sarkozy, Hollande và Macron. Do làm việc 24 năm liên tục, từ năm 1997 đến năm 2021, trong nhà bếp Điện Élysée, ông Guillaume Gomez biết rõ hậu trường cũng như cách vận hành của phủ tổng thống. Tuy đã từng phục vụ một số nhân vật nổi tiếng hàng đầu thế giới, trong đó có nữ hoàng Anh Elizabeth Đệ Nhị và tổng thống Mỹ Donald Trump, nhưng vẫn luôn giữ thái độ kín đáo, khiêm nhường. Sau khi rời Phủ tổng thống vào năm 2021, ông tiếp tục « nhiệm vụ » truyền đạt kiến thức cho các thế hệ sau. Hiện giờ, ông tiếp tục bảo trợ các trường dạy nghề ẩm thực tại Madagascar, Cameroun hay Đảo Mauritius, nhằm tạo cơ hội cho giới trẻ khởi nghiệp hoặc tìm việc làm. Nhân dịp ra mắt quyển sách « À la table du destin, du rêve d'enfant au Palais de l'Élysée » (Tại bàn ăn định mệnh : Từ giấc mơ thời thơ ấu đến Điện Élysée) nhà xuất bản Hors Cadre, Guillaume Gomez đã nhận trả lời phỏng vấn ban Pháp ngữ RFI. Ông cho biết lần đầu tiên ông gia nhập đội ngũ đầu bếp tại Điện Élysée là vào năm 19 tuổi (1997), dưới thời tổng thống Chirac. Thế nhưng, theo Guillaume Gomez, đam mê nấu ăn đã có từ lâu : Tôi luôn muốn trở thành đầu bếp, ngay từ khi còn rất nhỏ. Trong gia đình, ông cố tôi là một đầu bếp, từng học nghề và làm việc với bậc thầy Auguste Escoffier. Có lẽ tôi đã thừa hưởng cái khiếu nấu ăn từ phía gia đình bên ngoại. Mẹ tôi vẫn còn giữ một bức ảnh khi tôi còn học lớp mẫu giáo. Nhân một kỳ liên hoan nhà trường, trong khi các bé gái thích hóa trang thành nàng tiên hay công chúa, còn các cậu bé trai cùng lứa tuổi thích trở thành cảnh sát hay cao bồi, thì trong bức ảnh chụp tôi lại hóa trang thành một đầu bếp. Khi lớn lên, tôi bắt đầu sưu tầm các quyển sách dạy nấu ăn. Tôi còn nhớ quyển đầu tiên là quyển sách « La cuisine du Marché » (hiểu theo nghĩa nấu ăn với các món mua ngoài chợ trong ngày) của bậc thầy Paul Bocuse. Cha mẹ tôi kiếm sống nhờ nghề buôn bán đồ cũ. Vào thời ấy, bố mẹ tôi còn nghèo, cho nên dù đam mê nấu ăn nhưng chưa bao giờ tôi được đi ăn nhà hàng. Biết rằng tôi bắt đầu sưu tầm sách dạy nấu ăn, mẹ tôi thường để dành cho tôi một số cuốn sách mà bà tìm thấy. Một số quyển sách cũ đến nổi cho dù muốn bán thì cũng chẳng có ai mua. Sinh trưởng tại vùng ngoại ô nghèo của Paris (Seine Saint - Denis), ông bắt đầu học nghề nấu ăn từ năm 14 tuổi. Trong những bước đầu « tầm sư học đạo », Guillaume Gomez cho biết ông đã gặp được nhiều người tốt. Những vị ân nhân ấy đã tạo cơ hội cho ông gõ đúng cửa, tìm đúng việc hợp với sở thích của mình. Đầu bếp người Pháp nhận xét : Vâng, tôi rất may mắn vì nhiều lý do. Đầu tiên hết là từ khi còn nhỏ tôi đã biết mình muốn làm gì khi trưởng thành, cho nên đỡ phải mất thời gian để định hướng nghề nghiệp. Hơn nữa, tôi luôn được bố mẹ ủng hộ, bất chấp sự bất đồng của thầy cô trong trường, cho rằng cho tôi đi học nghề chẳng khác gì lãng phí khả năng học chữ của tôi. Cuối cùng, khi mới vào đời, tôi đã may mắn gặp thầy tôi là ông Johnny Benaria, mà tôi xem như một người cha thứ nhì. Chính ông Benaria cùng với Jacques Le Divellec đã giới thiệu tôi với đầu bếp Joël Normand, nhờ vậy tôi mới chính thức được tuyển vào làm việc cho Điện Élysée vào năm 1997, ngay sau khi tôi thi hành nghĩa vụ quân sự. Trong thời gian thử việc, bếp trưởng Joël Normand đã chỉ dẫn tôi một cách tận tình, quả thật là tôi rất may mắn khi gặp được những người thầy tốt đến như vậy. Học thầy không tầy học bạn. Trong mắt đầu bếp người Pháp, khoảng thời gian làm việc trong nhà bếp của Điện Élysée đã đem lại cho ông nhiều kinh nghiệm hữu ích, có giá trị tương đương với thời gian học tập tại 10 trường dạy nấu ăn. Ông Guillaume Gomez giải thích : Đúng vậy, bởi vì trong êkíp của chúng tôi, có rất nhiều đầu bếp trẻ tuổi từng thực tập hay làm việc cho các nhà hàng ba sao nổi tiếng nhất của Pháp. Qua công việc thường ngày, chúng tôi trao đổi kỹ thuật chế biến, bí quyết tay nghề cũng như các công thức nấu ăn. Có thể nói là nhà bếp của Điện Élysée giống như một lớp đào tạo tập hợp về cùng một chỗ những thực tập sinh đến từ nhiều trường phái khác nhau như Bocuse, Ducasse hoặc Robuchon. Thú vị hơn nữa là chúng tôi có thói quen khuyến khích nhau để cùng học hỏi tiến tới, chứ không phải học tập để lấy bằng điểm. Làm thế nào để nấu một bữa tiệc thịnh soạn để chiêu đãi thượng khách, nhưng đồng thời tránh làm phật lòng một nguyên thủ quốc gia như trường hợp của tổng thống Mỹ Donald Trump, nổi tiếng là thích ăn burger và pizza. Việc tiếp đón tổng thống Hoa Kỳ (với tất cả những ràng buộc vê mặt nghi thức lễ tân) đã để lại cho đầu bếp người Pháp nhiều giai thoại thú vị. Ông Quillaume Gomez cho biết thêm về khái niệm « ngoại giao bàn ăn ». Nhân chuyến công du nước Pháp đầu tiên của tổng thống Trump, chúng tôi được giao nhiệm vụ nấu một bữa ăn trưa cho hai nguyên thủ quốc gia Mỹ và Pháp. Thế nhưng, việc đưa vào thực đơn Điện Élysée các món ăn như burger hay pizza là điều không thể tưởng tượng nổi. Cũng may là chúng tôi có sự giúp đỡ của Câu lạc bộ các bếp trưởng hàng đầu (gọi tắt là Câu lạc bộ 3C). Do đầu bếp Pháp Gilles Bragard thành lập vào năm 1977, câu lạc bộ này gồm nhiều thành viên chuyên làm việc tại Phủ tổng thống hay Phủ thủ tướng. Nhờ câu lạc bộ 3C, tôi mới có dịp liên lạc trực tiếp với bà bếp trưởng tại Nhà Trắng, chính bà đã gợi ý cho tôi làm món sườn heo nướng xốt barbecue. Gợi hứng từ công thức này, tôi nấu món thịt thăn lợn với một chút xương. Đây là giống lợn đen nuôi ở vùng Bigorre, thịt mềm mà vẫn không nhiều mở, tẩm gia vị thơm ngon, dùng kèm với khoai tây thái thật mỏng thành nhiều que thon chiên giòn, nên được gọi là khoai tây « rơm », tiếng Pháp gọi là pomme paille. Rốt cuộc, tổng thống Trump rất hài lòng về bữa ăn này, mà chúng tôi cũng tuân thủ đươc nghi thức lễ tân. Có thể nói, ẩm thực cũng như nghệ thuật bàn ăn là phản ánh hình ảnh và uy tín của nước Pháp. Đó là một phần quan trọng trong văn hóa Pháp, nhưng đồng thời mang tính ngoại giao, bởi vì thông qua bàn ăn, chúng ta tạo được hình ảnh đẹp, thu hút sự chú ý cũng như chinh phục cảm tình của người nước ngoài. Tôi đã từng phục vụ bốn đời tổng thống, mỗi vị nguyên thủ có một phong cách riêng, nhưng nhìn chung họ ý thức về tầm quan trọng của nghệ thuật ẩm thực, do vậy họ đều muốn đề cao các đặc sản của Pháp thông qua các bữa ăn thường ngày, cũng như qua các buổi lễ tân tại Điện Élysée. Đầu bếp Guillaume Gomez gặp Emmanuel Macron lần đầu tiên khi ông ấy mới 35 tuổi, chưa được bầu làm tổng thống. Nhiều năm sau khi đắc cử, tổng thống Macron mới bổ nhiệm đầu bếp Guillaume Gomez làm đại sứ nhằm quảng bá ẩm thực Pháp ở nước ngoài. Lý do gì khiến ông Gomez rời bỏ chức vụ bếp trưởng Điện Élysée cho dù về mặt sự nghiệp, ông đã thành công trong gần 25 năm qua? Tôi không phải là một công chức và hành trình của tôi tại Phủ tổng thống (Điện Élysée) đã đến hồi kết. Phải chăng tôi đã ngủ quên trên một chiếc "ghế ngồi" quá thoải mái, hay là tôi tò mò muốn xem chương sách tiếp theo là gì ? Việc tôi rời một chức vụ không có nghĩa là tôi từ bỏ nhiệm vụ. Khi được bổ nhiệm làm đại sứ ẩm thực, nhiệm vụ của tôi không chỉ là quảng bá ẩm thực Pháp ở nước ngoài mà còn là cải thiện dinh dưỡng, khuyến khích giới trẻ ở Pháp ăn uống lành mạnh. Một chế độ ăn uống kém, gồm nhiều thức ăn nhanh, cũng như dùng quá nhiều thực phẩm chế biến thường dẫn tới các chứng bệnh béo phì, tiểu đường, huyết áp cao …. Mỗi năm, các chứng bệnh này gây thiệt hại hàng chục tỷ euro, thậm chí còn cao hơn nhiều lần mức thâm hụt ngân sách quỹ an sinh xã hội (hiện thời là 23 tỷ euro). Trong vài năm tới, chúng ta sẽ gặp rất nhiều vấn đề y tế công cộng nếu chúng ta vẫn ít coi trọng giáo dục dinh dưỡng, nhất là đối với giới trẻ thời nay. Theo tôi nghĩ, chúng ta đừng chờ, mà nên tìm cách đối phó ngay từ bây giờ.

  10. 15

    200 năm ngày khai sinh bảng chữ nổi của Louis Braille

    Cách đây 200 năm, một thiếu niên người Pháp bị mù do tai nạn, đã phát minh một bảng chữ nổi, giúp hàng triệu người khiếm thị trên khắp thế giới có thể đọc chữ bằng đầu ngón tay. Gợi hứng từ cách « viết chữ trong bóng tối » (code Barbier) để sĩ quan Pháp đọc mật mã tin nhắn vào ban đêm, Louis Braille, lúc bấy giờ mới 16 tuổi, đã hoàn chỉnh bộ chữ cái La tinh viết bằng các dấu chấm nổi. Cũng từ năm 1825 trở đi, bảng chữ nổi còn được gọi là chữ Braille. Hai thế kỷ sau ngày ra đời, bảng chữ Braille được phổ biến tại 140 quốc gia trên thế giới, do có thể ứng dụng cho bất kỳ ngôn ngữ nào có dùng ký tự La tinh. Nhưng trước khi học cách dùng chữ Braille, người khiếm thị phải biết đọc và biết viết tiếng mẹ đẻ của mình, rồi sau đó mới học chữ Braille. Cũng như người thường đọc chữ bằng mắt, người khiếm thị đọc chữ bằng đầu ngón tay, nhưng nếu không luyện tập trong một thời gian dài, người khiếm thị có thể quên cách đoc bảng chữ Braille. Trong xã hội công nghệ thời đại, có rất nhiều ứng dụng dùng âm thanh để hỗ trợ người khiếm thị. Có lẽ cũng vì thế, nạn mù chữ Braille ngày càng gia tăng, do giới trẻ thời nay ít còn quan tâm đến việc học chữ nổi. Tại Pháp, trong số các tổ chức trợ giúp người khiếm thị, có Trung tâm Phiên âm và Xuất bản chữ Braille (gọi tắt là CTEB) ở Toulouse. Mục tiêu của hiệp hội này là tạo điều kiện cho người khiếm thị tiếp cận dễ dàng hơn sách giáo khoa hay sách đọc in bằng chữ nổi. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Denis Guérin, trưởng ban điều hành trung tâm CTEB, cho biết vì sao việc duy trì sách in chữ Braille là điều cần thiết : « Chúng ta nên hiểu rằng, sách chữ nổi nói riêng và sách dành cho người khuyết tật nói chung ít khi nào được chính phủ tài trợ. Sách chữ nổi không dành cho số đông, ấn bản thường bị giới hạn, cho nên giá sách chữ nổi thường rất là cao, khoảng 700 euro một bộ. Vì vậy, có hai trở ngại lớn : Nhiều gia đình không đủ khả năng để mua những cuốn sách đắt tiền như vậy và hơn nữa, dù có muốn đọc sách, người khiếm thị cũng không có nhiều sự lựa chọn. Bởi vì trên thế giới hiện giờ, chỉ có 4% sách in được biên soạn lại bằng chữ nổi dành cho người khiếm thị. Mỗi năm, hiệp hội chúng tôi xuất bản 200 đầu sách mới, được biên soạn cho người hoàn toàn khiếm thị hoặc có thị lực kém. Nhưng nhìn chung, độc giả khiếm thị vẫn không có nhiều sách để đọc. Chẳng hạn như trong loạt truyện Harry Potter mỗi cuốn sách bỏ túi dày khoảng 400 trang, được bán với giá 10 euro. Để biên soạn lại theo chữ nổi Braille đọc bằng đầu ngón tay, quyển sách 400 trang này sẽ có đến 18 tập khổ A4, mỗi tập tương đương với một chương sách thường. Từ giá 10 euro ban đầu của một quyển sách thường, giá thành của một bộ sách chữ Braille 18 tập là khoảng 700 euro, chủ yếu vì khâu biên soạn đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Mỗi đầu sách mới bằng chữ nổi, chỉ được in thành vài phiên bản mà thôi ». Tuy phát hành mỗi năm 200 đầu sách mới, ban điều hành ngành xuất bản chữ nổi còn nhận thấy rằng trong thời gian gần đây, lại xuất hiện thêm một vấn đề khác. Đó là số người biết đọc chữ Braille ngày càng ít đi. Ông Denis Guérin, thuộc Trung tâm Xuất bản chữ Braille (CTEB), cho biết vì sao : « Vâng, chúng tôi không có số liệu thống kê chính thức, nhưng theo các chuyên gia, số người biết đọc chữ nổi tại Pháp là khoảng từ 15% đến 20% trong cộng đồng người khiếm thị, tức là cứ trên 5 người khiếm thị, chỉ có một người biết đọc chữ nổi. Sở dĩ có tình trạng này là vì chúng ta thiếu giáo viên, thiếu trường chuyên biệt, thiếu tài liệu giảng dạy hay sách đọc để giải trí. Đó là lý do vì sao chúng ta nên duy trì việc xuất bản sách, không chỉ  tiểu thuyết văn học, mà nhiều sách giáo khoa cũng cần được chuyển thể sang chữ Braille. Hiện giờ, hệ thống chữ nổi đã xuất hiện tại nhiều nơi công cộng, trong bảo tàng thư viện, trong thang máy dẫn đến bến tàu sân ga, có thể nói là hệ thống chỉ dẫn người mù ngày càng được phổ biến ở Pháp, nhưng ngược lại, vẫn thiếu nguồn lực dành cho văn hóa và giáo dục : vẫn chưa có nhiều đầu tư vào việc đào tạo giáo viên hay tài trợ sách giáo khoa để tạo cơ hội cho người khiếm thị có thêm sách để học, có thêm truyện để đọc ». Thời đại công nghệ số phải chăng tạo thêm nhiều khó khăn khác cho người khiếm thị. Hệ thống chữ Braille có thật sự khó học hơn so với các ngoại ngữ thông dụng, Ông Denis Guérin cho biết : « Nếu không có đủ trường học để dạy cách đọc chữ nổi, dĩ nhiên chúng ta có thể thay thế bằng công nghệ âm thanh cùng với điện thoại thông minh. Có thể nói, chúng ta chọn một con đường dễ dàng hơn. Nhưng cũng nên nhắc nhở tầm quan trọng của chữ nổi đối với người khiếm thị, kể cả những người kém thị lực và những người hoàn toàn bị mù. Người có thị lực kém, nhưng vẫn còn một chút khả năng nhìn, vẫn có thể đọc sách bằng cách phóng đại, điều chỉnh cỡ chữ lớn hơn. Còn những người mù thì lại cần viết và đọc hệ thống chữ nổi. Chẳng hạn như một thanh niên trẻ tuổi, tuy có thị lực bình thường, nhưng lại không thích đọc sách, chỉ thích xem phim (hình ảnh) và nghe nhạc (âm thanh) thì với thời gian, bạn trẻ này sẽ mất dần kỹ năng đánh vần, nhận diện mặt chữ và dễ viết sai chính tả. Do vậy, bất kể bạn đọc bằng mắt hay đọc bằng đầu ngón tay, thì lợi ích của việc đọc vẫn là nắm vững nội dung qua hệ thống chữ viết hay chữ nổi. Việc đọc khác với nghe nhìn, mặc dù những ứng dụng âm thanh đã giúp đỡ rất nhiều các cộng đồng người khiếm thị trên khắp thế giới trong 20 năm qua. Về chuyện học chữ nổi, tôi không nghĩ là chữ Braille khó học so với các ngoại ngữ như tiếng Đức chẳng hạn. Theo kinh nghiệm của tôi, khi bạn tập đọc, tập viết từ khi còn nhỏ, đâu đó bạn đã rèn luyện cho bộ não của mình làm quen với một hệ thống mới. Rồi sau đó, thầy cô ở trường, phương pháp giảng dạy và sách vở giáo khoa giúp cho bạn xây dựng năng lực học tập. Theo tôi, chữ Braille không khó hơn bất kỳ ngôn ngữ nào khác. Và quá trình thức học tập lúc nào cũng đòi hỏi thời gian ». Học chữ Braille khó hay dễ? Trả lời câu hỏi này, Michelle, một phụ nữ cao tuổi, cho biết bà đã quyết định học chữ Braille ở tuổi 69, sau khi bị mất thị lực do một chứng bệnh về mắt : « Tôi đã học chữ Braille ban đầu là vì nhu cầu trong đời sống thường nhật. Nếu mù chữ nổi, tôi không thể nào nhận ra những hộp thuốc mà tôi cần dùng hàng ngày. Sau đó, tôi học chữ nổi là vì sở thích, bởi vì thông qua chữ Braille, tôi đã khám phá lại rất nhiều điều : Đầu tiên là niềm vui đọc sách, thả trí tưởng tượng qua câu chữ ngôn từ, kế đến nữa là tôi luyện trí nhớ, nhất là trong tiếng Pháp bạn hơi phân vân về mặt chính tả, khi bạn ngừng đọc sách. Bạn không thật sự ý thức được điều đó, chừng nào bạn chưa đánh mất nó. Khi bắt đầu học chữ Braille, tôi đã học bảng chữ cái khá nhanh. Xúc giác ở đây rất quan trọng và tôi dùng ngón trỏ để thực hiện mọi thao tác. Công việc đọc sách đến sau khi học thuộc lòng bảng chữ cái. Tôi thấy việc học chữ Braille chẳng khác gì học một ngoại ngữ. Khác biệt duy nhất là chữ Braille đồng nghĩa với khiếm thị, trong khi ngôn ngữ nước ngoài không có liên quan gì tới khuyết tật ». Thế giới đã bước vào thời kỳ của trí tuệ nhân tạo, của các ứng dụng trên điện thoại thông minh cũng như máy móc có thể được điều khiển bằng giọng nói. Thế nhưng, các công cụ hiện đại này có giúp phát triển chữ Braille, hay ngược lại tạo thêm trở ngại cho việc học chữ nổi? Về điểm này, các chuyên gia trong ngành cho rằng những công cụ này bổ sung cho nhau: « Vào thời công nghệ số, cho dù đang học cách sử dụng các công cụ hiện đại, người khiếm thị có nhiều lúc vẫn cần đến chữ nổi Braille. Theo các chuyên gia, nhiều người mắc sai lầm khi cho rằng hệ thống chữ nổi Braille và ứng dụng điện thoại thường đối đầu với nhau, thậm chí công nghệ hiện đại có thể thay thế cho chữ Braille. Thật ra, mỗi hệ thống đều có lợi ích riêng và giới chuyên gia khuyên người khiếm thị nên học cả hai. Riêng chữ Braille nên được học càng sớm càng tốt. Ngay khi một ai đó bị mất thị lực, hay một đứa trẻ sơ sinh được phát hiện có khiếm khuyết về thị giác, điều quan trọng là nên làm quen ngay với công nghệ số cũng như hệ thống chữ Braille, vì cả hai đều có cùng một mục đích : tạo cho người khiếm thị cơ hội hòa nhập, trở nên tự lập thay vì gạt họ ra bên lề xã hội ».

  11. 14

    Sức quyến rũ của Liên hoan Avignon Off vừa tròn 60 tuổi

    Dưới ánh mặt trời chói chang miền nam nước Pháp, đang diễn ra liên hoan nghệ thuật biểu diễn quốc tế Avignon ( 04-25/07/2026 ). Bên cạnh chương trình Festival In, với khoảng 50 vở diễn, là Festival Off, với hơn 1.700 buổi diễn năm nay. Vẻ đẹp và sự phong phú của tại Festival Off Avignon quả là một thách thức lớn với giới truyền thông. Điều gì đã làm nên sức quyến rũ đặc biệt của Liên hoan Avignon Off, vừa tròn 60 tuổi, thường được coi là một trong những Festival sân khấu độc lập lớn nhất thế giới ? *** Julie : Khi Avignon làm thay đổi một cuộc đời Chúng tôi may mắn được làm quen với Julie, người đã 7, 8 năm liên tục có mặt tại Liên hoan Avignon. Những năm đầu tiên, Julie đến Avignon với tư cách là khán giả và hoàn toàn chỉ đến để coi các vở diễn của Festival Off. Avignon đã quyến rũ cô đến nỗi mà cách nay hai năm Julie quyết định từ bỏ một công việc lương cao để dấn thân vì nghệ thuật. Cô tâm sự : « Với tư cách là một khán giả, tôi đã xem rất nhiều vở kịch trong đời và thấy thật tuyệt vời khi chứng kiến sự đa dạng, tài năng và các sáng tạo được trình diễn dồn dập trong một tháng tại Liên hoan Avignon. Tôi muốn tham gia vào sự sôi động này, hợp tác với các nghệ sĩ, quảng bá tác phẩm của họ. Vì trước đây tôi từng là kỹ sư kinh doanh (ingénieur d'affaires), tôi thấy rằng khả năng tốt nhất của mình là giao tiếp và đàm phán. Vì vậy, với sở trường của mình, tôi quyết định chuyển hướng để hỗ trợ các đoàn kịch. » ACME Production, nơi Julie làm việc, là công ty chuyên hỗ trợ phát triển và quảng bá các sáng tác sân khấu, được sáng lập bởi diễn viên, tác giả, đạo diễn kịch tài ba Alexis Michalik, một người trưởng thành từ chính Liên hoan Off Avignon. Alexis Michalik – nhiều lần đoạt giải Molière - nổi tiếng với vở Edmond, thu hút hơn một triệu khán giả với khoảng 2.000 lượt trình diễn. Năm nay, công ty ACME Production hỗ trợ quảng bá 9 tác phẩm sân khấu tại Liên hoan Off Avignon, trong đó có vở Où vont les larmes quand elles sèchent ? (tạm dịch là Nước mắt ở đâu khi người ta không thể khóc ?), chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết best-seller cùng tên của nhà văn Pháp Baptiste Beaulieu, cũng là một bác sĩ, nơi trang viết và cuộc đời đập cùng một nhịp. Olympe: Nhà nữ quyền tiên phong và thời kỳ đen tối trong Cách mạng Où vont les larmes quand elles sèchent ? của nhà văn - bác sĩ Baptiste Beaulieu gây nhiều xúc động với Julie, nhưng tác phẩm gây chấn động mạnh nhất với cô tại Festival năm nay có lẽ là vở Olympe : « Tôi đã xem một vở kịch tên là Olympe, kể về Olympe de Gouges, một phụ nữ tuyệt vời trong thời kỳ Cách mạng Pháp. Bà đã đấu tranh khi bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền chỉ đề cập đến nam giới, loại bỏ quyền của phụ nữ. Đó là thời kỳ mà Quốc Hội cấm phụ nữ tụ tập, tham gia các cuộc họp chính trị. Thật vô cùng phi lý khi bà không bao giờ được nhắc đến trong sách giáo khoa (*). Tôi rất xúc động khi khám phá nhân vật này qua tác phẩm của Raphaël Arditti, vở diễn kết hợp rất sáng tạo giữa kịch bản và âm nhạc. Tác phẩm gây xúc động rất mạnh vì đó cũng là một con người có thực ». (*) Cho đến cách nay hơn mười năm, « Các sách giáo khoa đề cập đến vấn đề quyền bầu cử của phụ nữ thường chỉ dành một phần phụ lục để trình bày tiểu sử của Jeanne Deroin hoặc Olympe de Gouges (...). Điều này góp phần đẩy họ ra bên lề. » (Bài về Vị trí của phụ nữ trong sách giáo khoa, theo Đài Quan sát về tình trạng bất bình đẳng – Observatoire des inégalités - 2013). Cơ hội lớn được trao đổi, được lắng nghe Được trao đổi dễ dàng các cảm nhận về tác phẩm sân khấu với khán giả, với diễn viên, đạo diễn, là điều « đọng lại sâu đậm nhất » với Julie trong những dịp Liên hoan Off:   « Có thể tôi cực kỳ yêu thích một tác phẩm nào đó trong khi người khác lại có cảm nhận trái chiều, hoặc chưa thực sự được thuyết phục. Ngược lại, có những tác phẩm tuy không khiến tôi xúc động nhiều, nhưng lại lay động sâu sắc tâm hồn người khác. Nhưng thực sự là, chính những trao đổi ấy - sự gặp gỡ được tạo ra từ đó, về những điểm khác biệt hay về những gì đồng cảm - mới là điều đọng lại sâu đậm nhất trong tôi, bởi suy cho cùng, liên hoan là sự kết hợp đa dạng của vô vàn sáng tạo và tác phẩm khác nhau, từ những tác phẩm mang tính chính trị, hài hước, đến những vở nhạc kịch. (…) Sau buổi diễn, bạn có thể đợi để trò chuyện với đạo diễn hoặc diễn viên. Nghệ sĩ giải thích quan điểm của mình, thể hiện điều họ muốn, trao đổi về quá trình sáng tạo, động lực của họ và cách họ thực hiện tác phẩm. Tôi rất thích điều này ở Festival Off.  »   Tang tóc, sự trào lộng và những dòng thư gởi người thân đã khuất Festival Avignon không chỉ là một cơ hội lớn cho những trao đổi với khán giả, với giới nghệ sĩ, mà còn là nơi thể nghiệm những hình thức sáng tạo mới khi đời thường, đời thực ùa vào sân khấu. Tại quảng trường Saint Didier, trước cửa quán cà phê xưa nhất thành phố Le Grand Cafe Baretta, dưới bóng cây Judée rợp mát trong ngày hè oi ả, chúng tôi may mắn gặp được Nathalie Lovighi, diễn viên trong « Meurt de Rire » (Cười đến chết), vở diễn có một vai duy nhất. « Meurt de Rire » là câu chuyện về Francine, một người phụ nữ bình thường có tấm lòng nhân hậu. Francine nhận được cuộc gọi từ Catherine, người bạn vừa mất cha. Từng trải qua mất mát, Francine đến với Catherine, cùng bạn vượt qua nỗi đau. Câu chuyện xoay quanh chủ đề cái chết, nhưng đan xen là những nụ cười tinh tế. Trong vở kịch có những khoảnh khắc lắng đọng, khi khán giả được mời suy ngẫm về những người đã khuất khi đọc những lá thư của khách qua đường gởi người thân qua đời. Nữ diễn viên Nathalie Lovighi kể : « Có một khoảnh khắc tôi hỏi khán giả : ‘‘Vậy, bạn nhận được lá thư nào?’’, vì trên những chiếc ghế (trong rạp hát) có đặt sẵn các lá thư. ‘‘Ồ, một lá thư gửi mẹ’’. ‘‘Bạn có thể đọc giúp tôi được không?’’.  Thế là họ đọc những lá thư ấy — ‘‘Thư gửi Jeannot’’, ‘‘Thư gửi bà Lulu’’…. Thực ra, đây là những lá thư do những người qua đường ngẫu nhiên viết cho một người thân đã khuất, và để lại chỗ tôi. Đó là những lá thư có thật. Khoảnh khắc đó luôn rất xúc động, vì nó khiến mọi người suy ngẫm về cái chết và về những người không còn ở bên ta nữa. Tôi hỏi họ: ‘‘Tại sao chúng ta cứ phải đợi đến khi người thân ta qua đời mới nói lời yêu thương?’’, ai cũng gật gù: ‘‘Đúng vậy, quả đúng là như thế’’. Việc này thật hay, nó khơi gợi suy nghĩ. Đó là một khoảnh khắc tinh tế trong chương trình. Phần này rất ngắn thôi, chỉ kéo dài vài phút. Sau đó, chúng tôi trở lại ngay với câu chuyện của Francine và cô bạn Catherine, và tiếng cười lại rộn rã cho đến tận phút cuối ». Vở « Meurt de Rire » đến với Avignon, của đôi bạn Myriam Donasis và Nathalie Lovighi, được tòa thị chính thành phố cảng Le Havre, miền tây bắc nước Pháp, hỗ trợ. « Nos Assemblées » : Bánh pizza và trải nghiệm xây dựng dân chủ Tại Festival Off Avignon, không gì ngăn cách nghệ thuật và đời thường. Vở « Nos Assemblées » (Các Hội đồng của chúng ta), do Élise Chatauret đạo diễn, là một trong những tác phẩm nối kết mật thiết nghệ thuật với cuộc sống. Nos Assemblées là một trong 6 vở diễn, trong số hơn 200 vở dự thi, được vùng Ile-de-France tuyển chọn để đại diện cho vùng tham gia Liên hoan Avignon. Trả lời nhà báo Muriel Maalouf, chuyên về mảng văn hóa của đài RFI, đạo diễn vở Nos Assemblées chia sẻ : « Mọi chuyện bắt đầu từ lời mời của Nhà hát Théâtre de la Poudrerie ở Sevran, đề nghị chúng tôi dàn dựng một vở có thể trình diễn ngay tại nhà của người dân — đặc biệt là dành cho những khán giả hiếm khi đến nhà hát. Xuất phát từ ý tưởng đó, chúng tôi nhận ra rằng chủ đề mình mong muốn mang đến với mọi người — nhất là những ai không xem kịch hay không lui tới các thiết chế văn hóa — chính là chính trị. Cụ thể hơn, chúng tôi muốn khơi dậy trở lại mối quan tâm đối với chính trị, chúng tôi nhận thấy rằng công chúng đã mất niềm tin và không còn muốn tham gia vào lĩnh vực này nữa, vì họ cảm thấy nó chẳng liên quan gì đến bản thân. » Để đưa được sân khấu đến với mọi nhà, đáp ứng được nhu cầu của đông đảo, nhà đạo diễn tìm đến học hỏi từ chính người dân. Kinh nghiệm dân chủ tự quản của một nhóm công dân mang tên « L’Oseille Sauvage » (Cây Chút chít), ở một vùng thôn hẻo lánh, thu nhập rất bấp bênh, đã mang lại nhiều cảm hứng cho người sáng tác.   « … Nhóm của chúng ta có đồng ý làm một chiếc bánh pizza có phần ‘‘đế bánh’’ không? Có ai phản đối không? Không ! (tiếng cười rộ lên) Đề xuất được chấp thuận ! Có người đề xuất dùng sốt cà chua. Có ai phản đối việc dùng sốt cà chua cho chiếc bánh pizza của chúng ta không? Không ! Đề xuất được chấp thuận… ». Trên đây là một đoạn hội thoại trong vở « Nos Assemblées », trình diễn tại Théâtre du Train Bleu. Nos Assemblées là một vở diễn khơi dậy khát vọng thực hành dân chủ, mà khán giả nhập cuộc cùng các diễn viên. Đạo diễn Élise Chatauret chia sẻ : "Chúng tôi bỏ phiếu chọn phần đế bánh, nước sốt và các loại nhân. Đôi khi xảy ra bế tắc: người thì muốn có thịt, người lại không. Nhưng cũng giống như trong một nền dân chủ thực thụ, bạn phải biết lắng nghe, thương lượng, để tìm ra giải pháp."  Hành động « nổi loạn » của André Benedetto : Thời khắc khai sinh Festival Off Nhiều người tin rằng Festival In là Liên hoan chính thức và Liên hoan Off là không chính thức - hay các hoạt động bổ trợ, bên lề của Liên hoan chính thức. Trên thực tế, Festival Off Avignon là một liên hoan sân khấu độc lập, có tổ chức riêng, có lịch sử riêng. Tại Avignon vào dịp Festival Off tròn 60 tuổi, nhiều người ắt hẳn rất nhớ về hành động « nổi loạn » năm nào của diễn viên, nhà soạn kịch André Benedetto, thường được coi là thời khắc khai sinh Festival độc lập Avignon. Vở kịch « Statues » (Những bức tượng) của ông, từng bị nguyền rủa, vì diễn ra ngoài khuôn khổ Festival chính thức năm 1966. 1966 cũng là năm mà André Benedetto tung ra bản Tuyên ngôn, lên án nền sân khấu thời bấy giờ như « một thứ không khí độc hại, phương tiện chọc cười, làm tê liệt và ngạt thở... Chỉ đóng vai trò như một món đồ uống giúp ngon miệng, một liều thuốc tẩy, thuốc an thần... Ru ngủ lương tri... Bứt nốt những sợi dây tinh thần cách mạng cuối cùng trong trái tim người công dân, mà bằng cách nào đó vẫn còn sót lại sau sự bào mòn tư duy của hệ thống giáo dục.... » ( « Avignon, 1966 : avec la danse, une double déflagration dans la Cité », Le Monde) ». Tuyên ngôn của người mở đường cho Festival Off được ghi nhận đã « gây chấn động mạnh », phá vỡ nhiều húy kị, mở đường cho các đột phá nghệ thuật. Tinh thần Avignon thao thức cùng xã hội  Liên hoan Off và Liên hoan In từ chỗ là đối thủ đã ngày càng hướng đến hợp tác. Đạo diễn, diễn viên Olivier Py, giám đốc Liên hoan Avignon In, từ 2014 đến 2022, từng khởi nghiệp tại thành phố của các Giáo hoàng trong khuôn khổ Festival Off. Olivier Py đã đóng vai trò lớn để « Off » và « In » xích lại gần nhau. Năm 2023, Festival In và Hiệp hội Avignon Festival & Compagnies (AF&C), cơ sở phụ trách tổ chức Festival Off, thiết lập quan hệ đối tác chính thức, thừa nhận « hai Festival, nhưng cùng một công chúng ». Hai Festival khai mạc và kết thúc cùng ngày.  Festival Avignon Off không chỉ là một hội chợ sân khấu sôi động, mà còn là nơi mà nghệ sĩ và khán giả có nhiều cơ hội giao lưu, lắng tâm, trò chuyện. Nơi nghệ thuật chữa lành, kết nối lòng người và khơi gợi suy tư. Nơi khán giả khóc khi đọc thư của một người xa lạ gửi đến người thân đã mất (« Meurt de Rire »). Nơi một nhà nữ quyền bị quên lãng được hồi sinh (« Olympe »). Nơi chiếc bánh pizza trở thành biểu tượng cho một nền dân chủ cần được tái tạo (« Nos Assemblées »). Nơi cuộc sống đương đại ùa vào sân khấu. Nơi ươm mầm cho những niềm tin vào một tương lai.

  12. 13

    Ký ức những gia đình Việt-Nhật thời Thế chiến thứ hai qua tác phẩm Re/cover của Phan Quang

    Liên hoan Nhiếp ảnh Quốc tế tại  thành phố Arles miền nam nước Pháp ( Les Rencontres de la photographie d’Arles ) năm 2026 vừa khai mạc ngày 06/07 vừa qua. Qua sự giới thiệu của Galerie Bao tại Paris, loạt tác phẩm mang tên Re/cover của nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam Phan Quang đã được tuyển chọn để tham gia cuộc triển lãm The Best Possible Way to Tell the Truth, trong khuôn khổ giải thưởng Prix Découverte Louis Roederer tại Liên hoan. Dựa trên quá trình nghiên cứu kéo dài nhiều năm, Re/cover khai thác một chương ít được biết đến trong lịch sử Việt Nam, đó là câu chuyện của những người phụ nữ có gia đình với binh lính Nhật đã ở lại Việt Nam sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trả lời RFI Việt ngữ, Lê Thiên Bảo, người sáng lập và hiện điều hành Galerie Bao, cho biết: "Tôi biết Arles là kinh đô của nhiếp ảnh thế giới và đã theo dõi các chương trình của Liên hoan Arles từ lâu, đặc biệt là giải Decouverte Louis Roederer, một giải thưởng uy tín được thành lập từ năm 2018 để giới thiệu các sáng tác của các nghệ sĩ mới đến với công chúng Châu Âu. Tôi cũng biết serie Re/cover của Phan Quang từ rất lâu rồi, khi còn ở Việt Nam và thấy serie này sẽ rất thích hợp với giải thưởng nên đã soạn kỹ một đề xuất hoàn chỉnh và nộp cho Liên hoan Arles. Rất vui là tác phẩm của nghệ sĩ đã được ban giám khảo và giám tuyển của Liên hoan Arles đánh giá rất cao về chất lượng." Đối với Lê Thiên Bảo, “hơn mười năm sau khi ra đời, tác phẩm Re/cover vẫn giữ nguyên sức mạnh của một tác phẩm thể hiện khả năng của nhiếp ảnh trong việc lưu giữ, khơi lại và tái kiến tạo lịch sử.” Về phần mình, giám tuyển Nadine Hounkpatin của giải thưởng Découverte Louis Roederer ghi nhận những nét độc đáo trong tác phẩm Re/cover của Phan Quang: " Mỗi bức ảnh khắc họa nhân vật trong không gian sống thường nhật, khoác trên mình chiếc khăn voan cô dâu màu trắng truyền thống. Chiếc khăn này trở thành một biểu tượng đa tầng nghĩa: vừa gợi nhắc về những mối lương duyên dang dở và những người cha vắng mặt, vừa đóng vai trò như tấm màn che chở ngăn cách ánh nhìn của người xem với sự riêng tư đầy mong manh. Nó vừa là tấm khăn liệm cho quá khứ, vừa là cử chỉ của sự kín đáo. Thông qua cách dàn dựng mang tính điêu khắc đầy chủ đích này, Phan Quang làm nổi bật sự hiện diện bền bỉ nhưng thầm lặng của những câu chuyện ấy ( ... ). Như vậy, một thập kỷ sau khi ra đời, *Re/cover* vẫn là một suy ngẫm đầy sức thuyết phục về khả năng kiến ​​tạo ý nghĩa thế giới của nhiếp ảnh, vượt xa khỏi vai trò đơn thuần là ghi lại thực tại." Sinh năm 1976 tại Bình Định, Phan Quang nguyên là một phóng viên nhiếp ảnh, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt. Tác phẩm của anh nằm trong các bộ sưu tập của The Museum of Contemporary Art, Los Angeles, CA, Hoa Kỳ; Asia Society Museum, New York, NY, Hoa Kỳ; Fukuoka Art Museum, Fukuoka, Nhật Bản; và Singapore Art Museum, Singapore. Các triển lãm tiêu biểu của Phan Quang bao gồm The Next Step, Sàn Art, TP. HCM, 2022; RE/COVER, Blanc Art Space, TP. HCM, 2016; Space/Limit, Sàn Art, TP. HCM, 2013; The City in the Blue, Dakar Biennale lần thứ 12, Dakar, Senegal, 2016; và And That Which Was Always Known, Yavuz Gallery, Singapore, Singapore, 2015. RFI Việt ngữ đã có dịp gặp Phan Quang tại Paris ngày 07/07/2026 trước khi anh đến thành phố Arles để dự triển lãm: RFI: RFI Việt ngữ hôm nay rất vui được tiếp chuyện với nghệ sĩ Phan Quang tại Paris. Theo chúng tôi biết thì ban đầu anh là một nhiếp ảnh gia cho ngành báo chí. Thế thì vì sao anh đã quyết định chuyển sang con đường nhiếp ảnh nghệ thuật? Phan Quang: Nhiếp ảnh nghệ thuật là một cách thể hiện khác về nhiếp ảnh. Nó đã thôi thúc tôi trong rất nhiều năm, thì có một cơ duyên từ năm 2009, sự thôi thúc đó đẩy tôi ra bên ngoài và tiếp cận với nền nhiếp ảnh gọi là nghệ thuật đương đại. Đó là một trong những phương pháp thể hiện khác với lối nhiếp ảnh trong nước đang vận hành. Lối nhiếp ảnh đấy đeo đuổi tôi tới bây giờ. Từ 2009, tác phẩm của Quang nằm trải dài ở rất nhiều cuộc triển lãm ở Việt Nam cũng như quốc tế, nhưng hầu như nhiều người ở Việt Nam cũng chưa quen lắm, cho nên cách mình thể hiện cũng lẳng lặng và việc mình thực hành thì đi sâu vào trong các giá trị cốt lõi. Phải nghiên cứu rất là kỹ. Phải đọc rất là nhiều. RFI: Khi ta nói về nghệ thuật đương đại và nhiếp ảnh nghệ thuật thì có nghĩa là không chỉ có nhiếp ảnh, mà đôi khi tùy theo chủ đề chúng ta có thể kết hợp với các bộ môn nghệ thuật khác để thể hiện đúng ý đồ của mình? Phan Quang: Thực ra thì nó không có giới hạn. Do Quang “thuận tay” với nhiếp ảnh nên đi hẳn về nhiếp ảnh. Chứ còn Quang có làm phim, làm điêu khắc rất nhiều, vẽ cả tranh và bản thân trong nhiếp ảnh của Quang cũng là một performance rồi. Nên là nó không có giới hạn trong các môn thực hành. Còn đối với Quang, nhiếp ảnh là một môn mà mình giỏi nhất, thì mình thường dùng phương tiện ấy để thể hiện ý tưởng của một serie tác phẩm hoặc một tác phẩm.  RFI: Trong quá trình tìm tòi đó thì anh đã hoàn tất một công trình nghệ thuật mang tên là Re/cover vào năm 2016, đã được giới thiệu ở nhiều triển lãm quốc tế. Nay thì tác phẩm này được giới thiệu tại triển lãm ảnh nghệ thuật ở Arles. Trước hết anh có thể cho biết vì sao anh đã chọn đề tài gia đình của những phụ nữ đã lấy lính Nhật ở lại sau Thế chiến Thứ hai? Phan Quang: Thực ra Re/cover là một trong khoảng 10 serie mà trong quá trình thực hiện của Quang được show ( giới thiệu ) ra bên ngoài. Re/cover một đề tài thuộc loại “rơi tỏm” ra ngoài khỏi sự quan tâm của giới nghệ sĩ, cũng như xã hội ở Việt Nam. Tôi may mắn được tiếp cận một cách tình cờ trong quá trình chuẩn bị, vì tôi đã chọn văn hóa Nhật Bản để làm đối trọng, nên khi đó mới chú tâm tới những gì liên quan đến Nhật Bản và đã phát hiện ra manh mối rất là nhiều thứ về việc đấy. Cũng nhờ kỹ năng làm báo một phần để tìm tòi ra những mắt xích rồi, sâu chuỗi nó lại, làm cái dự án trong vòng 6 năm. Bản thân tôi tới bây giờ vẫn vậy: làm tác phẩm không lo. Bản thân tác phẩm hay thì nó sẽ tự có đời sống của nó, không có lúc này thì lúc khác. Nên thật ra đối với tôi, tôi cứ làm. Không biết nó sẽ đi tới đâu ở trong đời sống của tác phẩm ấy.  RFI: Nhưng cơ duyên nào đã đẩy Phan Quang tới với những gia đình đó? Phan Quang: Thực ra nó cũng là một cái duyên. Lúc đầu tôi dùng văn hóa Nhật Bản để đối trọng với một số nền văn hóa của châu Á. Thì tôi thấy lạ lùng vì có những người rất giống người Nhật! Rồi tôi đào sâu, đào sâu mãi và tôi ngồi với những gia đình đấy trong vòng 6 năm, trở thành giống như người thân, người anh, người em trong gia đình, thì mới triển khai được dự án này.  RFI: Như vậy thì 6 năm chắc là đủ để có được sự tin cậy của những gia đình đó để Phan Quang có thể chụp những bức ảnh theo đúng ý đồ nghệ thuật của mình. Trong những bức ảnh đó, có những người ngồi giống như bức tượng và phủ trên họ là một tấm voan ( voile ) khá là trong suốt. Vì sao anh lại có cái dụng ý đó? Phan Quang: Thật ra là năm 2013, tôi có may mắn được lưu trú ở bên Nhật, ở Yokohama, tôi mới đi tìm hiểu, mới đọc được một tài liệu về năm 1955, năm mà tất cả những người lính Nhật buộc phải về nước. Thì cũng chính năm đấy thì ở thành phố Kyoto có một cái nhà máy sản xuất vải voan. Đúng thời điểm đấy luôn thì mình may mắn tìm ra được nhà máy đó và mua vải voan đấy, vì voan đối với Việt Nam là một loại vải tượng trưng cho đám cưới. Còn ở Nhật nó cũng được dùng để may kimono, nên cũng là đại diện cho tình yêu. Năm mà những người lính Nhật phải về nước thì cuộc sống những gia đình đấy ở Việt Nam giống như bị đóng băng toàn bộ, bị bao phủ lên một lớp màn. Họ là con của những người phát xít, nên nói chung vào thời điểm đó rất mà khó phát triển ở Việt Nam. Bên Nhật thì họ cũng không có liên quan gì tới cái đấy hết. Bởi vì đối với lính Nhật, họ không đồng ý cho cưới một phụ nữ ở xứ An Nam. Cái thời điểm đấy nó khác, văn hóa khác. Giống như những cuộc sống gia đình của họ rơi ra khỏi vòng xoáy phát triển của xã hội. Khi đó mình mới giải quyết được câu chuyện chụp hình, thì mình mới mua vải voan ở bên Nhật về phủ lên hết các gia đình đó. Gia đình Việt Nam mà phủ vải trắng lên là tương đương với tang chế, nên phải đủ thân thì họ mới cho phủ lên như vậy.  RFI: Chắc họ sẵn lòng để cho phủ lên tấm voan đó bởi vì họ hiểu rằng tấm voan tượng trưng cho sự ngưng động của thời gian, tức là kể từ đó cuộc sống của họ coi như cắt đứt liên lạc với những người mà họ đã từng chung sống? Phan Quang: Đúng rồi, họ vẫn mong người cha, người chồng của họ, nhưng mà vô vọng. Có một chi tiết làm tôi vẫn khóc hoài, đó là lúc mà tôi ở Nhật thì những người con đó muốn xin một nắm đất từ bên Nhật về bỏ vô lư hương để thắp hương hằng ngày, để họ nhớ về quê cha đất tổ, thì tôi đã phải dùng một "thủ thuật" để mang được đất về cho họ, chứ còn Nhật đâu có cho mang vô, mà chính phủ Việt Nam cũng không cho mang vô. Mang nắm đất tượng trưng về để họ bỏ vô lư hương, họ thắp hương thì ai cũng khóc, tôi cũng khóc luôn! RFI: Như vậy thì mấy chục năm sau tâm trạng của những người con, người cháu trong những gia đình đó như thế nào. Họ có còn hoài niệm về thời đó hay không? Hay là đối với họ bây giờ đã trở thành quá khứ rồi?  Phan Quang: Người Việt mình mà, anh ở đâu đi nữa, anh cũng cần về quê cha đất tổ. Đối với những người đó, họ mong mỏi được qua Nhật, được sống với tinh thần hào khí của Nhật Bản, vì trên ID ( căn cước ) của họ vẫn là nguyên quán Nhật Bản mà. RFI: Trong quá trình tái lập công lý cho những gia đình đó, để gây sự chú ý của nhà chức trách Nhật, anh đã có những hành động gì và chính phủ Nhật có đáp ứng hay không?  Phan Quang: Khi tìm hiểu các dữ liệu ở Việt Nam, khi tôi làm gần xong, đọc lại toàn bộ lịch sử thì thấy tất cả châu Á đều ảnh hưởng gần giống nhau. Khi lính Nhật tràn vô thì tất nhiên phải có liên quan với phụ nữ. Khi ấy tôi đã viết gần khoảng 270 lá thư bằng tiếng Anh gửi đi tất cả các lãnh sự quán, cũng như tất cả những nơi có liên quan đang tới Nhật Bản. Tôi tin họ có một dữ liệu cụ thể nào đấy để có thể cung cấp đầu mối, vì ở Việt Nam đi tìm rất khó. Trong vòng cả năm trời gửi đi, rồi hy vọng, nhưng  không có một phản hồi nào. Sau đấy thì tôi phải tự đi tìm mua những tài liệu và xâu chuỗi từng nấc một, từng nấc một, để tìm ra những người Thái Lan, người Malaysia, người Philippines, người Hàn Quốc. Mỗi nơi sẽ có những trường hợp khác nhau, những vấn đề khác nhau và tôi phải tự đi làm hết. Thật ra Nhật Bản không support dự án này vì họ coi là không có liên quan. Nhưng có một điều đặc biệt là khi Nhật Hoàng qua thăm Việt Nam ( năm 2017 ) thì đài NHK mới phỏng vấn và đưa ra những nhận định đây là một mối liên kết. Sau đấy thì Nhật Hoàng có tới thăm bà Xuân ( một gia đình cựu binh Nhật ). Rồi mình không đi sâu vào vấn đề đấy nữa. Nhưng khi NHK bay vô Sài Gòn phỏng vấn tôi, thì tất nhiên dự án này trước đó họ đã biết rồi. Nhưng mà tôi gửi mail thì họ không trả lời, không đả động gì hết!

  13. 12

    Ca nhạc sĩ Bob Dylan : Tình yêu và nước Pháp

    Nếu có một nhịp cầu giữa huyền thoại Bob Dylan với quê hương của Victor Hugo chắc chắn cây cầu đó phải là nhạc sĩ người Pháp Hugues Aufray. Văn chương, thi ca, điện ảnh, phong cách của người dân Pháp đều có sức thu hút rất lớn và Bob Dylan còn bị tiếng hát của tác giả Tous les garcons et les filles làm mê hoặc. Đầu thập niên 1960 tình cờ trên đường phố New York, chính xác hơn là tại khu Greenwich Village, Aufray đã trông thấy một nhạc sĩ gầy gò với cây đàn ghi ta, trong một quán bar. Hàng thập niên sau danh ca người Pháp này kể lại : « Người ta thường nói tiếng sét ái tình mà quên mất rằng trong tình bạn cũng có thể những cú sét đó. Chỉ lướt qua nhau tôi đã trông thấy một nghệ sĩ tài hoa. Lần đầu hội ngộ tôi ngỡ đã gặp được thi sĩ Rimbaud ». Ngôn ngữ của văn thơ và sự đồng điệu Điều kỳ diệu là Dylan và Aufrey đã vượt lên được những rào cản về ngôn ngữ, họ « kể chuyện cho nhau nghe » bởi có lẽ cả hai cùng nói chuyện với nhau bằng ngôn ngữ của thơ, của nhạc và của tâm hồn … Aufray một nhà soạn nhạc, được biết đến nhiều với những ca khúc như Santiano và Céline. Ông cũng là người sau này đã dịch sang ngôn ngữ của Molière biết bao tác phẩm của Bob Dylan … Hugues từ hơn 6 thập niên qua luôn là nhịp cầu đưa những ca khúc của danh ca người Mỹ này đến với công chúng Pháp qua phần trình bảy của rất nhiều thế hệ ca sĩ Pháp như Francis Cabrel, Johhny Hallyday … hay Alain Bashung Vào năm 1961, Robert Zimmerman chân ướt chân ráo đến New York lập nghiệp, trước khi tìm được cho mình một nghệ danh ưng ý. Khi biết người bạn mới quen từ Kinh Đô Ánh Sáng đổ bộ lên đất tự do Hoa Kỳ, Zimmerman như thể « buồn ngủ mà gặp chiếu manh », vồ vập hỏi thăm về những Apolinaire, Mallarmé…, về Nhà Thờ Đức Bà Paris. Anh muốn tận tai nghe một người Pháp nói về Les Misérables của Victor Hugo … Trước khi trở thành huyền thoại Bob Dylan, Zimmerman đã lấy nguồn cảm hứng từ những áng thơ của Baudelaire, từ những lý tưởng về một xã hội công bằng và bác ái qua nhân vật Jean Valjean, từ những suy ngẫm về cuộc đời chắt lọc từ tuyển tập thơ Les Contemplations ..  Hugues Aufray là nhạc sĩ Pháp tận mắt trông thấy sự hình thành của huyền thoại Dylan. Những năm đầu, Dylan mỗi lần đến Paris, không một đồng xu dính túi, đều tá túc trong căn hộ của « Hug’ » đường Saint Médard, ở quận 5. Họ thức trắng đêm để nói chuyện văn, thơ...  Năm 1963, nhạc sĩ người Mỹ cùng Hugues Aufray khám phá Paris, lần theo dấu chân của những Rimbaud và Verlaine, để đưa những tên tuổi ấy vào chính những tác phẩm của mình sau này. Ca khúc You’re Gonna Make Me Lonesome When You Go phảng phất câu thơ của Paul Verlaine « Il pleure dans mon cœur comme il pleut sur la ville – Nước mắt trong lòng, như mưa trên phố » và ý tưởng chỉ cần « thiếu vắng một người, cả thế giới trở nên vô nghĩa » từng được Lamartine đưa vào thi ca … Like a Rolling Stone  Đâu chỉ có Bob Dylan ngưỡng mộ văn chương Pháp. Một trong những cây bút nổi tiếng nhất trên văn đàn Pháp, nữ sĩ Marguerite Yourcenar (1903-1987) trong một cuộc trả lời phỏng vấn trên đài truyền hình đã hết lời khen ngợi Bob Dylan. Bà nói « Bob Dylan là đỉnh cao trong thi ca, ý thơ của anh là hơi thở của thời đại. Những lời thơ của anh luôn ẩn chứa những phẩm giá cao quý. Dylan có cách diễn đạt tinh tế và giọng hát thiên thần ». Không chỉ yêu văn chương và thi ca của Pháp, ông còn bị choán ngợp bởi tinh thần dấn thân trước thời đại của các đại văn hào của Pháp từ thế kỷ 17- cho đến tận ngày hôm nay… Tác giả của những The Time They Are A Changin’ hay Like a Rolling Stone còn rất say mê điện ảnh Pháp.  Một trong những bộ phim có giá trị nhất trong mắt ông là Les Enfants du Paradis - Những đứa trẻ trên thiên đường của Marcel Carné. Kịch bản và lời thoại trong bộ phim đen trắng ra mắt công chúng năm 1945 này do nhà thơ Jacques Prévert biên soạn…   Les Enfants du Paradis đã thôi thúc nhạc sĩ Dylan bước vào nghệ thuật thứ Bảy. Ông cùng biên soạn kịch bản và tham gia bộ phim Renaldo và Sarah… mà trong đó, nhân vật ông thủ vai giống Bob Dylan ở ngoài đời như hai giọt nước. Tình yêu một chiều   Văn chương, thi ca, điện ảnh, phong cách của người dân Pháp ...đều có sức thu hút rất lớn đối với nhạc sĩ Bob Dylan. Sự nghiệp của Bob Dylan bắt đầu cất cánh. Những năm 1961-1965 được xem là giai đoạn mà hầu hết mỗi sáng tác của ông đều là « một tượng đài » trong âm nhạc. Bắt đầu nổi tiếng trên thế giới « Bob » vẫn trung thành với nước Pháp và gắn bó với người bạn thuở ban đầu là Aufray…   danh ca người Mỹ này rất thường xuyên sang Pháp. Lúc thì ở Paris, khi thì tìm đến nắng ấm của đảo Corse, liếc mắt đưa tình với những cô gái nhỏ ở thị trấn Saintes Marie de la Mer, vùng Camargue, miền nam nước Pháp… để rồi bị một tiếng hát thôi miên, một đôi gò má cao và gương mặt hơi « xương xẩu » xương xẩu của Françoise Hardy làm mê hoặc. Bob Dylan đã viết hàng chục bức thư tình nhưng chẳng bao giờ dám gửi đến tác giả ca khúc Tous les garçons et les filles …. Mãi đến vòng lưu diễn ở Paris, năm 1966, tại rạp hát Olympia, tình cảm dành cho Françoise Hardy dâng cao như thủy triều … Đêm biểu diễn hôm đó, giữa chừng Bob Dylan thực sự « phát điên ». Anh  đòi phải mời cho bằng được Françoise Hardy đến gặp mình. Gặp được người trong mộng, trong phòng nghỉ, nghệ sĩ người Mỹ này chỉ cầm lấy cây đàn ghi tả và hát cho cô nghe hai ca khúc Juste Like a Woman và I want You … Nhiều năm sau khi tóc đã nhuộn màu  thời gian, Françoise Hardy tâm sự : « Lần đó là cuộc hội ngộ duy nhất ». Bob Dylan « gầy như que củi, xấu xí, tóc tai bù xù, móng tay để dài như phù thủy ... ». Françoise Hardy khi đó không hào hứng với lời tỏ tình của Dylan … Bà thú nhận, từng « ngây thơ đến dại khờ » chẳng hiểu vì sao Bob Dylan lại chọn hai nhạc phẩm nói trên để hát tặng mình. Mãi sau này Françoise Hardy mới hiểu thêm một chút về Bob Dylan : « Thật đau lòng khi anh ấy đề cập đến mối tình nghìn trùng xa cách giữa hai người yêu nhau, không thể ngờ rằng tình yêu có thể nảy sinh từ một bức ảnh, và chỉ một bức ảnh là đủ để anh ấy hiểu thật nhiều về tôi  ».  Mãi sau này Françoise Hardy mới đọc được những bài thơ Bob Dylan đã sáng tác để tặng riêng cho bà. 

  14. 11

    Nhạc Nhật lời Việt : Mayumi Itsuwa, trời còn mưa mãi

    Trong số các nhạc sĩ nổi tiếng ở Nhật Bản, Mayumi Itsuwa có lẽ là một trong những tác giả được dịch nhiều nhất sang tiếng Việt. Nhắc tới các bản phóng tác với nhiều lời khác nhau, được nhiều thế hệ nghệ sĩ ghi âm lại, phải kể đến hai bản nhạc nổi tiếng nhất là "Người yêu dấu ơi" và "Trời còn mưa mãi". Sinh trưởng tại quận Nakano, Tokyo, Mayumi Itsuwa là một trong những phụ nữ đầu tiên theo đuổi sự nghiệp ca hát nhưng đồng thời muốn trở thành một tác giả thực thụ. Thời còn nhỏ, Mayumi Itsuwa đã có nhiều năng khiếu âm nhạc. Bắt chước thân phụ, Mayumi tự học chơi đàn ghi ta những bản nhạc cô hằng yêu thích. Sau khi tốt nghiệp tú tài, Mayumi bắt đầu đi hát trong các quán cà phê gần nhà, đồng thời sáng tác những bài hát đầu tay. Vào năm 1972, ở tuổi 21, Mayumi ký hợp đồng ghi âm và cho ra mắt album đầu tay mang tựa đề "Shōjo" (Thiếu nữ). Tuy album phòng thu đầu tiên của cô được thực hiện tại Los Angeles, với sự tham gia của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như nhà hoà âm Canada David Campbell và tác giả người Mỹ Carole King, nhưng có lẽ cũng vì trong thời gian khởi nghiệp, cô theo đuổi dòng nhạc folk, lối sáng tác mộc theo phong cách dân ca, cho nên giọng ca này lại ít được công chúng Nhật Bản quan tâm đến. Mayumi trau dồi sáng tác và tự ghi âm các bản nhạc của mình. Mãi đến năm 1980 (8 năm sau khi khởi nghiệp) cô mới lập kỷ lục số bán với album phòng thu thứ 9. Đĩa đơn "Koibito yo" (Người yêu dấu ơi) được xem là giai điệu làm nên tên tuổi của Mayumi, nâng sự nghiệp của tác giả này lên một tầm cao mới. Bài hát đứng đầu bảng xếp hạng thị trường Nhật Bản trong nhiều tuần liên tục và giành được giải nhất của hiệp hội các nhà sáng tác Nhật Bản. Bài hát này cũng đã được nhiều giọng ca huyền thoại xứ Phù Tang như Hibari Misora, Noriko Awaya hay Akira Fuse ghi âm lại trong những năm sau đó, trở thành giai điệu gắn liền với tên tuổi của tác giả Mayumi Itsuwa. Trên album này, còn có một bài hát khác đáng chú ý : nhạc phẩm "Ai no sinkirou" có nghĩa là lâu đài cát, một bài hát ban đầu được viết cho Nana Kinomi vào năm 1980, sau đó được Mayumi thu âm một phiên bản thứ nhì. Bài này từng được đặt lời Việt thành nhạc phẩm "Sa mạc tình yêu". Vào năm 1981, Mayumi vừa tròn 30 tuổi, khẳng định tài nghệ sáng tác của mình với nhạc phẩm "Ribaibaru" (Revival / Hồi sinh) mở đường cho cô chinh phuc các thi trường ngoài Nhật Bản. Nhờ các bản phóng tác, Mayumi thành công tại nhiều nước châu Á, kể cả Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Philippines hay Indonesia. Riêng ở Việt Nam, giới yêu nhạc rất quen thuộc với những giai điệu phóng tác sang lời Việt. "Koibito yo" trở thành "Hận tình trong mưa" theo cách đặt lời của nhạc sĩ Phạm Duy. "Người yêu dấu ơi" theo tác giả Nhật Ngân. Nhạc phẩm "Ribaibaru" theo tác giả Nguyễn Duy là "Tiễn anh trong mưa", còn theo tác giả Nhật Ngân là "Trời còn mưa mãi". Nhiều giai điệu khác của Mayumi cũng được nhiều lần chuyển sang lời Việt : Kokoro no Tomo trở thành "Khi cô đơn em gọi tên anh", Nokoribi là "Tàn tro", Aikagi là "Chìa khóa tình yêu", Dakishimete" là Ngàn năm vẫn đợi.  Nổi tiếng nhờ chất giọng mượt trầm truyền cảm, Mayumi Itsuwa còn được nhiều người yêu mến nhờ biết sáng tác những giai điệu trữ tình, trau chuốt trong sáng. Nhờ những sáng tác mang tính nội tâm, Mayumi Itsuwa trở thành cánh chim đầu đàn cho phong trào tác giả "trẻ" khác với dòng nhạc enka (diễn ca). Trào lưu này bao gồm những ca sĩ kiêm tác giả như Yumi Matsutouya, Miyuki Nakajima hay Mariya Takeuchi vừa có khả năng diễn đạt, vừa có tài sáng tác những ca khúc có chiều sâu trong hai thập niên 1970 và 1980. Mayumi Itsuwa còn thường được mệnh danh là "Carole King của Nhật Bản", chuyện sáng tác những giai điệu sâu lắng nội tâm, phản ánh những trăn trở suy ngẫm, khi trong tim mối tình chỉ còn bao kỷ niệm vương vấn. *** Trong cơn mưa rào xối xả Bước chân qua đường hối hả Kỷ niệm tia chớp đầu hạ In hằn hình bóng ngày qua   Biết bao truyền thuyết quá khứ Cũng chỉ còn trong giai thoại  Dù có bao lần lặp lại  Nhưng hồn quên vội ngày mai   Còn đâu chuyện tình đôi ta  Cháy bùng những chặng đời qua Dưới mưa, trái tim câm nín Mong thành đá lửa hồi sinh

  15. 10

    Mì ăn liền Hàn Quốc chinh phục nước Pháp

    Trên các quầy siêu thị tại Pháp chuyên bán mì ăn liền, người tiêu dùng có thể tìm thấy các loại mì gói của Nhật Bản (ramen), Thái Lan (mà-ma), Indonesia (mi goreng) ….. nhưng loại bán chạy nhất trong thời gian gần đây vẫn là mì ăn liền (ramyun) của Hàn Quốc. Trong số các hiệu phổ biến nhất có NongShim, SamYang và gần đây hơn nữa là Choi's Company, do công ty này vừa khánh thành cách đây 6 tháng một nhà máy sản xuất mì gói tại vùng Alsace, miền đông nước Pháp. Sau phim ảnh, âm nhạc hay mỹ phẩm, ẩm thực Hàn Quốc (K-Food) là dấu hiệu gần đây nhất cho thấy làn sóng văn hóa Hàn Quốc (hallyu) đang chinh phục toàn cầu. Riêng tại Pháp, giới trẻ thích ăn loại mì cay hiệu NongShim. Tập đoàn mì gói số một của Hàn Quốc, trụ sở tại Seoul, đã thành công trong việc xuất khẩu ra khắp thế giới hơn 40 hiệu mì ăn liền khác nhau nhờ mô hình sản xuất và chế biến hiệu quả. Tại thủ đô Seoul, có hẳn một cửa hàng tên là Ramyun Library chỉ chuyên bán mì ăn liền. « Thư viện mì gói » này có đến hàng trăm hiệu mì khác nhau, khách tham quan có thể đun nước sôi để dùng thử mì gói ngay tại chỗ và nếu thích có thể mua đem về nhà. Được khai trương vào cuối năm 2023, cửa hàng mì gói này đã thu hút sự tò mò của khá nhiều khách nước ngoài, trong đó có cô Amy, một du khách người Mỹ : Tôi thật thích thú ngạc nhiên vì không ngờ rằng ở đây có nhiều loại mì đến như vậy. Dùng thử mì gói ngay tại Seoul thực sự là một trải nghiệm độc đáo khác thường. Trước đây, tôi đã từng nghe nói tới mì ăn liền qua các chương trình truyền hình hay qua phim ảnh. Trong phim thường có cảnh nhân vật đang ăn mì gói, cho thấy đó là một thói quen trong đời sống thường ngày tại Hàn Quốc. Nhưng vì tôi sinh sống tại một thị trấn nhỏ ở Hoa Kỳ, cho nên tôi không dễ tìm mua mì gói trong siêu thị. Có lẽ cũng vì thế tôi thực sự cảm thấy thích thú khi có cơ hội khám phá tại chỗ những gì mình đã từng xem trên tivi. Để hiểu rõ hơn về sự thành công của mì ăn liền Hàn Quốc trên thị trường quốc tế, ta nên ghé thăm thành phố Gumi, cách thủ đô Seoul khoảng 200 cây số. Mỗi ngày, 6 triệu rưỡi gói mì được sản xuất tại nhà máy NongShim, công ty hàng đầu chuyên về mì ăn liền tại Hàn Quốc. Trên một diện tích rộng 62.000 mét vuông, nhà máy NongShim tuyển dụng 600 nhân viên để giám sát hệ thống sản xuất dây chuyền khổng lồ, trong xưởng máy có đến 95% đã được tự động hóa. Để đẩy mạnh doanh thu trên thị trường quốc tế, hiệu mì gói NongShim tận dụng « Hàn lưu », làn sóng văn hóa từ Hàn Quốc đang chinh phục thế giới. Trả lời phỏng vấn ban Pháp ngữ RFI ông Choi Youngkab, giám đốc tiếp thị của công ty NongShim, giải thích: Chiến lược toàn cầu của Nongshim chủ yếu dựa vào việc cài đặt sản phẩm vào phim ảnh. Lối tiếp cận này giúp thương hiệu trở nên hấp dẫn hơn, nhất là trong mắt những bạn trẻ nào rất yêu thích các sản phẩm văn hóa phổ thông đến từ Hàn Quốc. Trường hợp gần đây nhất là qua bộ phim « Kpop Demon Hunters » (Thợ săn quỷ Kpop), bộ phim này đã đẩy mạnh doanh thu, giúp phổ biến thương hiệu của chúng tôi, vì trong phim các nhân vật chính thường ăn mì hiệu NongShim. Công ty chúng tôi sẽ duy trì chiến lược này và trong tương lai sẽ có những quan hệ hợp tác tương tự qua việc cài đặt sản phẩm quảng cáo vào trong phim ảnh hay video clip ca nhạc. Chiến lược này đang đem lại nhiều thành quả , hơn 40% doanh thu hàng năm của NongShim đến từ thị trường quốc tế. Vì vậy, ban lãnh đạo công ty tin rằng cần phải khai thác nhiều hơn nữa đà thành công của Hàn lưu. Pháp : 150 triệu gói mì được tiêu thụ hàng năm Chỉ cần mở một gói mì khô, đổ gói bột gia vị rồi cho thêm vào nước sôi, vài phút sau là đã có sẵn một tô mì nóng hổi. Công thức vô cùng đơn giản này, không đòi hỏi thời gian chế biến, khiến mì ăn liền trở thành một món ăn không thể thiếu trong ngăn tủ nhà bếp. Riêng tại Pháp, lượng tiêu thụ mì gói đã phát triển nhanh chóng trong thời hậu Covid, nhờ vào chế độ làm việc từ xa. Cô Marianne, một nhân viên văn phòng ở Paris, cho biết : Đối với tôi, không gì đơn giản hơn là ăn mì gói, chỉ cần đổ nước sôi vào là có ngay. Tôi luôn có sẵn các gói mì ăn liền ở trong bếp, chủ yếu dành cho những ngày tôi làm việc ở nhà, chứ không cần vào cơ quan và thường là một hoặc hai ngày trong tuần. Mì ăn liền chẳng những rất rẻ, chưa đầy một euro một gói, nhưng lại còn giúp tôi tiết kiệm thời gian, đỡ phải nấu nướng nhiều ở nhà. Điều tôi thích nhất là các gói gia vị nho nhỏ, để tạo ra các mùi vị khác nhau. Chính các gói gia vị tạo nên sự khác biệt giữa hàng loạt nhãn hiệu được bán trong siêu thị. Mì ăn liền đối với tôi có hương vị khá đậm đà, tôi thích dùng loại mì có độ dai và hơi cay cay, và tôi thấy mì gói dễ ăn và ngon hơn nhiều so với mì luộc spaghetti trộn xốt cà chua theo kiểu Ý. Trên thị trường Pháp, doanh thu thường niên mì ăn liền đạt mức 140 triệu euro, tăng đều đặn 3% mỗi năm tính từ năm 2022. Trong số các công ty Hàn Quốc muốn mở rộng thêm thị trường châu Âu, có tập đoàn thực phẩm SIAS vừa khánh thành hồi đầu năm 2026 một nhà máy sản xuất mì ăn liền đầu tiên tại châu Âu. Với mức đầu tư 28 triệu euro, xưởng sản xuất  này nằm tại Wisches, một thị trấn nhỏ thuộc vùng Alsace, cách thành phố Strasbourg một giờ lái xe. Theo giám đốc điều hành Patrick Hennion, nhà máy hiện tuyển dụng 50 nhân viên và có khả năng sản xuất hơn 100.000 gói mì mỗi ngày tức 200 gói mỗi phút. Tập đoàn SIAS sản xuất mì gói hiệu « Choi's Company » thường được gói trong tô nhựa, mỗi phần có giá 2,50 euro, tức cao hơn những gói mì thông thường, một phần vì mỗi tô mì có khẩu phần lớn hơn. Cách đóng gói cũng như màu sắc logo đặc biệt nhắm vào giới trẻ, vốn có sức ăn mạnh hơn : khi dùng mì gói thông thường, mỗi lần các bạn trẻ thường phải ăn hai gói. Việc khai trương nhà máy sản xuất mì ăn liền đầu tiên tại Pháp cho thấy châu Âu đang trở thành một thị trường quan trọng đối với các tập đoàn Hàn Quốc. Hiệu Choi's Company đã hoàn chỉnh một công thức mì ăn liền dành riêng cho thị trường châu Âu, mì có độ dai hợp với khẩu vị của thực khách Pháp, những gói tạo mùi được sản xuất tại vùng Alsace kết với 15 loại gia vị khác nhau, trong đó có các gói màu xanh dành cho những người thích ăn mì với vị truyền thống, hoặc gói màu đỏ dành cho những người thích ăn cay hơn. Trong năm qua, hơn 160 triệu gói mì đã được bán tại Pháp. Khai thác đà thành công này, hiệu Choi's Company tung ra 6 hương vị mì ăn liền khác nhau, có cả mì gà, mì bò và mì trộn xốt carbonara. Các sản phẩm này có thể được tìm thấy tại các siêu thị vùng Alsace trước khi được mở rộng ra khắp nước Pháp. Sự phát triển nhanh chóng của mì ăn liền tại Pháp khiến một số chuyên gia y tế lo ngại. Mỗi gói mì có gần 1 gram muối, chưa kể đến việc sợi mì ăn liền thường được tẩm thêm nhiều chất phụ gia, cho nên các nhà dinh dưỡng học khuyên người tiêu dùng chỉ nên ăn tối đa hai hoặc ba tô mì gói mỗi tuần.

  16. 9

    K-Beauty : Vẻ đẹp Hàn đến Pháp

    K-Pop, K-Beauty, K-Dramas, ẩm thực Hàn, cuối cùng làn sóng Hàn Lưu (Hallyu) cũng làm mưa làm gió tại Pháp. Tại sao Hallyu vẫn là trào lưu từ nhiều năm nay? Thế nào thì được coi là đẹp ở Hàn Quốc? Bí mật là gì? Triển lãm K-Beauty. Vẻ đẹp Hàn Quốc, lịch sử của một hiện tượng tại Bảo tàng Guimet, Paris đưa khán giả xuyên suốt 300 năm lịch sử của trào lưu này thông qua lịch sử nghệ thuật, lịch sử thời trang, nghiên cứu văn hóa, khía cạnh xã hội học về vẻ đẹp ở xứ Hàn. Sau gần hai năm chuẩn bị, triển lãm (từ ngày 18/03 đến 06/07/2026) được tổ chức đúng Năm Hàn Quốc tại Pháp nhân kỉ niệm 140 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương. Vẻ đẹp Hàn được định nghĩa như thế nào ? Được dựa theo những tiêu chí nào ? Bà Claire Bettinelli, đồng giám tuyển của triển lãm, lần lượt giải thích với RFI Tiếng Việt từng giai đoạn lịch sử của Hàn Quốc từ cuối triều đại Joseon (1392-1910) cho đến ngày nay để hiểu được khái niệm về vẻ đẹp đã được thay đổi như thế nào tại Hàn Quốc. Đẹp từ phong thái Trong xã hội bị ảnh hưởng bởi Tân Nho giáo, “nam nữ thụ thụ bất thân”, nét đẹp của người phụ nữ được dựa trên đức hạnh thể hiện qua trang sức và trang phục. Trang phục thướt tha, làn da trắng mịn, trang điểm nhẹ nhàng và kiểu tóc tinh tế phản ánh cho vẻ đẹp bên trong và nghệ thuật chăm sóc bản thân. Nét đẹp này được thể hiện rất rõ trong bức bình phong - được trưng bày ngay gian đầu tiên của triển lãm - gồm 8 bức tranh của Kim Hong Do (1745-1815) khắc họa tinh tế những cảnh sinh hoạt thường nhật của giới quý tộc thời Joseon, cũng như những tác phẩm hội họa của Shin Yun Bok, theo giải thích của Claire Bettinelli : “Shin Yun Bok (1758-sau 1813) tập trung vào vẻ đẹp thời Joseon. Vẻ đẹp này có những đặc điểm gì ? Một khuôn mặt trái xoan hoàn hảo, theo quy tắc ba màu : tóc đen, lông mày đen, con ngươi đen, làn da trắng, bọng mắt trắng, răng trắng, còn má, môi và móng tay hơi hồng. Đây là ba màu sắc mà chúng tôi tìm thấy trong hình ảnh đại diện cho phụ nữ của Shin Yun Bok. Đó là những “kisaeng” - kỹ nữ, là những nguyên mẫu của cái đẹp. Sang thế kỷ 20, Hàn Quốc bị Nhật Bản chiếm đóng, sau đó Mỹ xuất hiện mạnh mẽ kể từ năm 1953. Điều này thực sự ảnh hưởng đến cách người Hàn Quốc thể hiện bản thân, khuôn mặt, thể hiện cái đẹp, trang phục và tìm tòi trong những nguyên mẫu của cái đẹp. Nét đẹp này cũng được thể hiện qua những trang phục hanbok được may theo mẫu vẽ của họa sĩ Sin Yun Bok, đặc biệt là của nhà tạo mẫu Lee Young Hee (1936-2018) và được giới thiệu tại triển lãm. Trong những năm 2010, nhiều nhiếp ảnh gia thời trang, trong đó có Kim Jung Man, lấy cảm hứng từ hanbok và vẻ đẹp từ những tác phẩm của Sin Yun Bok. Có thể thấy rằng vẻ đẹp đó vẫn tồn tại đến ngày nay và vẫn dựa vào những tiêu chuẩn khá cổ điển về vẻ đẹp Hàn Quốc”. Đẹp nhờ mỹ phẩm tự nhiên “Đẹp tự nhiên nhưng không tự nhiên mà đẹp”, đó là cả một bí quyết, một hành trình chăm sóc tỉ mỉ, qua nhiều công đoạn rất nổi tiếng trong K-Beauty. Bảo tàng Guimet đã kết hợp nhiều bảo tàng tại Hàn Quốc (Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc, Bảo tàng Mỹ phẩm Hàn Quốc, Bảo tàng Cung điện Quốc gia Hàn Quốc, Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia hiện đại và đương đại Seoul) để giới thiệu với công chúng những dụng cụ làm đẹp có từ thế kỷ 18 và 19, nghi lễ làm đẹp thường nhật và những loại mỹ phẩm giúp Hàn Quốc nổi danh. Bà Claire Bettinelli giải thích : “Mỹ phẩm được làm thủ công từ các loại thảo dược tự nhiên, dựa trên công thức được ghi trong các cẩm nang về sức khỏe và y học. Theo quan niệm truyền thống, vẻ đẹp bên ngoài phản ánh thể trạng và sự hài hòa bên trong cơ thể. Nhiều thành phần được sử dụng trong cả thực phẩm và mỹ phẩm, ví dụ đậu đỏ, mầm gạo và cả nhân sâm. Từ lâu ở châu Á, nhân sâm không những được dùng để bồi bổ cơ thể mà còn được tin là giúp cải thiện và làm săn chắc làn da. Tư tưởng này tiếp tục được kế thừa trong K-Beauty ngày nay. Các thương hiệu thường nhấn mạnh đến nguồn gốc truyền thống của các công thức làm đẹp được lưu truyền hàng nghìn năm và hiệu quả đã được kiểm chứng theo thời gian. Đó chính là một trong những giá trị cốt lõi mà K-Beauty đang đề cao. Ví dụ hình ảnh nhân sâm được sử dụng để làm nổi bật thành phần của một loại nước hoa hồng. Bên cạnh đó, bao bì của các sản phẩm K-Beauty ngày nay cũng lấy cảm hứng từ lịch sử nghệ thuật, đặc biệt là từ họa sĩ Shin Yun Bok, và hiện vật truyền thống. Cách làm này tạo nên sự kết nối giữa mỹ phẩm đương đại với di sản văn hóa Hàn Quốc”. K-Beauty thành tiêu chuẩn trên thế giới K-Beauty là thuật ngữ miêu tả toàn bộ hệ sinh thái làm đẹp chuẩn Hàn, từ quy trình dưỡng da phức tạp, sản phẩm mỹ phẩm đa dạng đến các dịch vụ làm đẹp công nghệ cao và phẫu thuật thẩm mỹ tiên tiến. Bà Claire Bettinelli cho biết đã nghe nhiều YouTuber nói đến quy trình làm đẹp nhiều bước, lấy cảm hứng từ mỹ phẩm Hàn Quốc, khi quảng cáo cho một số thương hiệu mỹ phẩm Hoa Kỳ ngay những năm 2008-2010. “K-Beauty là một thành phần của làn sóng quyền lực mềm trong Hallyu. Hàn Quốc đăng cai Thế vận hội năm 1988 và sự kiện này đã tác động rất lớn đến việc Hàn Quốc mở cửa ra thế giới. Họ có cả một chiến lược quyền lực mềm nhằm mở rộng sự hiện diện trên trường quốc tế, trước sự cạnh tranh từ Bắc Triều Tiên. Họ cố gắng bảo tồn và xuất khẩu văn hóa truyền thống. Ban đầu, việc này được thực hiện thông qua các sản phẩm phi vật thể, ví dụ xuất khẩu âm nhạc K-Pop, điện ảnh, phim truyền hình… Những nội dung này được tiếp cận dễ dàng hơn từ những năm 2010 nhờ các nền tảng trực tuyến. Tìm K-Pop hoặc phim truyền hình Hàn Quốc dễ hơn là tìm J-Pop (nhạc Nhật Bản) hoặc phim truyền hình Nhật Bản. Các mạng xã hội như YouTube, Instagram, TikTok, X đều nói về K-Beauty và hình ảnh Hàn Quốc. Nhưng phải nói rằng trước khi những sản phẩm phi vật thể này trở nên phổ biến thì đã xuất hiện hình ảnh của những người nổi tiếng, với làn da và khuôn mặt hoàn hảo. Và người ta muốn giống họ, hoặc ít nhất là có công thức thần kỳ cho làn da hoàn hảo đó, mái tóc mềm mượt và óng ả đó. Và đó là cách K-Beauty đến phương Tây. Vẻ đẹp Hàn trong thời trang cao cấp Vẻ đẹp Hàn Quốc trở thành hiện tượng K-Beauty được thể hiện trong phần cuối của triển lãm. Ngay những năm 2010, chữ “K” được gắn với những xuất khẩu văn hóa của Hàn Quốc : K-Pop, K-Dramas, K-Beauty… Những bộ hanbok truyền thống trở thành nguồn cảm hứng cho nhà tạo mẫu nổi tiếng Karl Lagerfeld của Chanel để thiết kế những chiếc áo khoác có tay áo rộng, vai tròn, có hai hàng cúc hoặc xẻ. “Phiên bản Hàn Quốc của áo khoác Chanel” được giới thiệu trong bộ sưu tập Croisière 2015/16 tại trung tâm Dongdaemun Design Plaza ở Seoul ngày 04/05/2015. Theo bà Claire Bettinelli, đây là đầu tiên một bộ sưu tập Croisère được giới thiệu ở nước ngoài và cho thấy chuyên môn nghề dệt may Hàn Quốc : “Các bộ trang phục sử dụng kỹ thuật patchwork, ghép những mảnh vải nhỏ với nhau, kết hợp hình dáng của hanbok và đặc biệt là những điểm đặc trưng của Chanel, ví dụ chiếc nơ nhung đen lớn là một đặc trưng của Chanel hoặc phần cổ áo cũng là kiểu may đo đặc trưng của Chanel, nhưng kiểu dáng của chiếc váy lại là hanbok. Có thể thấy rằng thời trang cao cấp có sự quan tâm đặc biệt ở ngoài khu vực phương Tây và quan tâm đến thời trang Hàn Quốc. Đây là điều vô cùng thú vị”. Những thần tượng K-Pop (BTS, Blackpink…) trở thành sứ giả của vẻ đẹp được chuẩn hóa và dễ nhận biết. Có thể thấy rõ ảnh hưởng của làn sóng Hàn tại Pháp trong phần đương đại ở gian triển lãm cuối, gồm rất nhiều kỷ vật cá nhân, dụng cụ liên quan đến K-Beauty. Bà Claire Bettinelli cho biết ban tổ chức đã kêu gọi công chúng tham gia “và chiến dịch thành công ngoài mong đợi” : “Chúng tôi dựng một bức tường, được gọi là “Bức tường Ký ức” về vẻ đẹp ở Hàn Quốc, với những tấm thiệp được người hâm mộ K-Pop sưu tầm và mỹ phẩm có từ những năm 2000 của những người đam mê mỹ phẩm và sở hữu nhiều sản phẩm làm đẹp Hàn Quốc hoặc những người có sản phẩm Hàn Quốc đầu tiên được bán ở Pháp, hoặc những người đến tận Hàn Quốc để mua vào thời điểm đó”. K-Beauty vẫn lan rộng không ngừng tại Pháp nhờ mạng xã hội và những cửa hàng mỹ phẩm Hàn Quốc liên tục mọc lên tại Paris và các thành phố lớn. Làm thế nào để giải thích sự thành công của mỹ phẩm Hàn Quốc ? Trước tiên, chắc chắn phải nói đến giá cả-chất lượng, rẻ hơn so với nhiều thương hiệu mỹ phẩm phương Tây. Theo một phóng sự của đài truyền hình TF1, ngành công nghiệp mỹ phẩm Hàn Quốc còn đi đầu trong việc khai thác những thành phần chưa từng được nghe đến ở châu Âu và sử dụng công nghệ cao, kể cả trí tuệ nhân tạo, để phân tích da, pha chế mỹ phẩm theo đặc trưng da của mỗi khách hàng, sáng tạo những xu hướng mới, như “glass skin” (làn da thủy tinh) trong veo như phủ sương… Đằng sau thành công này là cả một kế hoạch được Seoul công bố năm 2024. Hàng nghìn công ty mỹ phẩm được tập trung tại các khu công nghiệp ở tỉnh Gyeonggi và Bắc Chungcheong. Về quảng bá ở nước ngoài, Cơ quan Xúc tiến Đầu tư và Thương mại Hàn Quốc (KTO) hỗ trợ nhà sản xuất và đại diện tham gia các triển lãm thương mại lớn của ngành công nghiệp làm đẹp. Phương pháp này đã mang lại hiệu quả. Từ vị trí thứ 4 toàn cầu (sau Pháp, Mỹ và Đức) vào năm 2022, Hàn Quốc đã vươn lên vị trí thứ hai, chỉ sau Pháp, sau khi vượt mốc xuất khẩu 10 tỷ euro (tăng 20%) vào năm 2024.

  17. 8

    Phô mai Comté, truyền thống Pháp cả ngàn năm tuổi

    Dãy núi Jura, nằm giữa những khu rừng thông và đồng cỏ mênh mông, là nơi khai sinh ra Comté, một trong những loại phô mai lâu đời của Pháp. Văn bản xưa nhất có từ thế kỷ XII là một hợp đồng mua bán bò sữa để làm phô mai tại làng Poligny, nằm cách hai thành phố Dole và Besançon khoảng 50 cây số. Với thời gian, phô mai Comté cũng như Morbier trở thành đặc sản nổi tiếng hàng đầu của vùng Bourgogne Franche-Comté. Vào thời Trung cổ, nhiều gia đình nông dân đã hợp sức với nhau trong quá trình sản xuất. Sữa tươi khó giữ được lâu, sản lượng của mỗi gia đình cũng không được nhiều, nhưng khi thu gom lại thì vẫn đủ sữa để sản xuất một loại phô mai có thể giữ được lâu (gọi là fromage de garde). Mô hình sản xuất theo kiểu gom góp này đã khai sinh các hợp tác xã phô mai đầu tiên ở miền trung nước Pháp (thuật ngữ địa phương gọi là fruitière). Có thể nói Comté phản ánh tình đoàn kết trong giới nông dân thời xa xưa, nhiều thế kỷ trước khi các loại máy móc cũng như khái niệm sản xuất công nghiệp ra đời. Theo đầu bếp Pháp Emmanuel Perrodin, tác giả của quyển sách « Le Comté, 10 façons de le préparer » (Mười cách chế biến món ăn với Comté) thực khách Pháp yêu chuộng loại phô mai này trước hết là vì Comté có hương vị đa dạng, phong phú. Phô mai Comté cũng nhẹ nhàng,dễ ăn hơn  nhiều so với các loại phô mai đậm mùi hơn như Camembert, Maroilles, Roquefort hay Morbier : Trên thực tế, điều làm nên nét độc đáo của Comté nằm trong sữa tươi, thành phần quan trọng đầu tiên để chế biến phô mai. Hương vị tinh tế và phong phú của phô mai Comté tùy thuộc vào khí hậu, môi trường tự nhiên cũng như thời điểm thu gom sữa tươi. Các đàn bò sữa (giống bò Montbéliarde) được thả ở ngoài đồng, vào mùa xuân nhều mưa được ăn nhánh cỏ xanh non, vào mùa hè nhiều nắng được ăn thêm nhiều luống hoa dại, vào mùa đông đàn bò sữa chủ yếu ăn cỏ khô. Các loại thức ăn này đều ảnh hưởng tới sữa : do vậy, phô mai Comté (làm với sữa bò) mùa đông không giống với phô mai mùa hè, phô mai được sản xuất với sữa bò ở vùng đồng bằng thung lũng cũng sẽ khác với vùng cao nguyên Haut-Jura. Ngoài hương vị, phô mai Comté còn phản ánh một mô hình sản xuất lâu dài về mặt truyền thống và « bền vững » nhờ tình đoàn kết. Các yếu tố này làm cho phô mai Comté trở nên độc đáo, khiến người dân địa phương cảm thấy tự hào. Với hơn 60.000 tấn được bán ra hàng năm, Comté thuộc vào hàng phô mai được người tiêu dùng yêu chuộng nhất. Được chế biến từ sữa tươi, ép chắc và nấu chín, Comté là một trong những loại phô mai đầu tiên của Pháp được chứng nhận vào năm 1958 về nguồn gốc, xuất xứ cũng như quy trình chế biến. Để mang nhãn hiệu cầu chứng Comté, phô mai phải được sản xuất trong các vùng xung quanh dãy núi Jura (Ain, Doubs và Jura). Anh Sébastien Ozérée, nhà sản xuất phô mai Comté thuộc hợp tác xã Plasne-Barretaine cho biết : Hợp tác xã của chúng tôi gồm 21 nhà sản xuất, trong đó có 7 nhà sản xuất hữu cơ (bio) và 14 nhà sản xuất theo phương pháp thông thường. Chúng tôi sở hữu toàn bộ các cơ sở và thiết bị để chế biến gần 7 triệu rưỡi lít sữa tươi mỗi năm. Chúng tôi có một chiếc xe tải riêng với dung lượng 15.000 lít, để thu gom sữa tươi từ các nông trại thành viên của hợp tác xã. Mỗi ngày, sữa tươi được thu gom từ các nông trại gần kề, trong bán kính không quá 25 cây số. Từ xe bồn, sữa tươi thu gom được chuyển trực tiếp vào các thùng lớn bằng đồng, để được chế biến ngay trong vòng 24 tiếng. Tùy theo mỗi mùa, đúng là hương vị của Comté đều có sự thay đổi. Chế độ ăn uống của đàn bò sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của phô mai : kết cấu, màu sắc hay hương vị sẽ không giống nhau. Chẳng hạn như, vào mùa xuân khi hoa bồ công anh nở đầy trên các cánh đồng cỏ, ta có cảm tưởng chân núi vùng Jura được trải thảm vàng. Khi được thả ở ngoài đồng, đàn bò tha hồ mà ăn cỏ thơm hoa dại, điều đó rất tốt cho sữa, và ta có thể thấy ngay sự thay đổi này : màu sắc của sữa chuyển sang trắng ngà đậm chất hơn, chứ không hoàn toàn trắng bạch như trước. Chính những yếu tố này giúp nâng cao chất lượng của Comté và loại phô mai còn theo truyền thống lâu đời này rất khác so với các loại pho mát sản xuất theo kiểu công nghiệp. Phô mai Comté cần được ủ tối thiểu trong bốn tháng (120 ngày), loại rất ngon có thể được giữ lâu hơn nữa. Nếu muốn ăn Comté có nhiều mùi hương « hoa đồng cỏ nội », thì nên mua vào tháng 7 hoặc tháng 8, nhưng cũng có người thích ăn Comté chế biến với sữa mùa đông. Nhìn chung, ngànhsản xuất Comté có đến gần 2400 nông trại trong 150 hợp tác xã (fruitières) và mỗi hợp tác xã đều mang đến một nét riêng trong cách chế biến phô mai. Theo bộ Nông Nghiệp Pháp, hàng năm có tới hơn một triệu rưỡi ổ phô mai Comté được sản xuất (mỗi ổ nặng 40 kí lô), tương đương với 61.000 tấn. Thời gian trung bình ủ phô mai Comté là 8 tháng (mức quy định tối thiểu là 4 tháng) nhưng có thể kéo dài đến 12, 15, 18 hoặc thậm chí 24 tháng. Để làm ra một ổ phô mai với 60 cm bề ngang và 10 cm bề dày, các nhà sản xuất cần hơn 400 lít sữa bò Montbéliarde. Anh Sébastien Ozérée cho biết những công đoạn chính trong quá trình chế biến phô mai Comté. Trong bước đầu, sữa được đổ vào các thùng đồng, rồi cho thêm men lactic để làm đông sữa. Vài giờ sau khi sữa tụ đặc lại thành một khối, đông, người ta dùng máy để cắt sữa đông thành muôn vàn hạt sữa có kích thước nhỏ hơn. Bước kế tiếp là quá trình đun nóng sữa đông không quá 56°C. Hỗn hợp này sau đó được cho vào khuôn, rồi sau đó được ép chặt bằng ván gỗ trong 20 giờ. Đến ngày hôm sau, phô mai ép được lấy ra khỏi khuôn, rồi được ướp muối, để giúp cho phô mai nấu chín được giữ lâu một cách tự nhiên. Ở giai đoạn này, Comté còn là một loại phô mai non, chưa dậy mùi. Pho mai được cất giữ trong hầm hợp tác xã khoảng ba tuần trước khi được gửi đến xưởng ủ phô mai trong thời gian tối thiểu là 120 ngày (bốn tháng). Quá trình ủ phô mai được tiến hành trên những tấm ván bằng gỗ thông miền núi Jura. Đây là một loại gỗ địa phương, có lợi thế là gỗ thông không có chất tannin, nên không tác động đến quá trình tạo mùi cho Comté. Ba tuần một lần, bề mặt của phô mai được xoa bằng nước muối có trộn với men vi sinh, điều này giúp cho vỏ phô mai có được một lớp vỏ dày tự nhiên. Phô mai còn non thường có màu lợt nhưng sau đó, nó sẽ chuyển sang màu ngà, màu vàng, màu cam và cuối cùng là màu nâu đối với những ổ pho mai nhiều tuổi nhất. Nhiều người không thích lớp vỏ dày của Comté, nhưng ta hoàn toàn có thể ăn được. Theo tôi nghĩ, đó chỉ là một vấn đề về sở thích hay khẩu vị : lớp vỏ cứng dày thường có mùi vị đậm đà hơn. Dù gì đi nữa, sau khi được ủ bốn tháng, phô mai có thể được bán trên thị trường. Giá cả dĩ nhiên tùy theo chất lượng : nếu phô mai không có khuyết điểm về hình dạng cũng như mùi vị, nhà sản xuất có thể bán với giá cao hơn. Hiện tại, loại Comté phổ biến chính là loại phô mai được ủ từ 6 đến 8 tháng, ngon hơn nữa có loại 12 tháng. Nhiều ổ phô mai Comté lại càng có giá cao hơn vì được ủ lâu hơn từ hai năm (24 tháng) cho đến gần ba năm rưỡi (40 tháng). Hương vị của Comté lại càng phong phú tuyệt vời. Một số thực khách thích dùng phô mai còn non, chưa đầy 12 tháng, nhưng cũng có nhiều người thích ăn loại Comté chín muồi, với nhiều năm tuổi. Đó là trường hợp của đầu bếp Emmanuel Perrodin, tác giả quyển sách «Mười cách chế biến món ăn với Comté » : Tôi đã có dịp nếm thử một miếng Comté 40 tháng tuổi do một bậc thầy chuyên ngành phô mai chế biến. Lúc đầu, tôi nghĩ là mình không thích phô mai được ủ nhiều năm, nhưng khi nếm thử loại Comté 40 tháng tuổi của ông Marc Janin, tôi mới khám phá ra mùi vị cũng như một kết cấu mà tôi chưa từng trải nghiệm. Loại Comté này có nhiều hương thơm mềm mại nồng nàn gần giống như vani. Trong khi các loại non hơn thường có mùi hạt dẻ với những nốt cay cay của hạt tiêu. Điều lạ kỳ là Comté 40 tháng tuổi thực sự vẫn giữ được vị dịu dàng và độ mềm mại, chứ không dễ trở nên khô rắn, dễ ghiền nát vụn như loại phô mai Parmesan (Parmigiano) của Ý . Thoạt nhìn, các ổ phô mai Comté có vẻ hơi cứng, nếu không nói là rắn chắc, nhưng thực ra, khi bấm bằng hai đầu ngón tay, miếng Comté vẫn giữ được độ mềm mại kỳ lạ. Kỷ niệm đẹp của tôi là mỗi lần trở về nguyen quán, tôi lại khám phá mùi phô mai Comté, trong tâm trí lại ùa về hương vị lan tỏa đậm đà của vùng núi Jura.

  18. 7

    "Kẻ trộm nghệ thuật" - Một góc nhìn khác lạ về tội phạm

    Cuốn sách Kẻ trộm nghệ thuật (The Art Thief: A True Story of Love, Crime, and a Dangerous Obsession) khám phá cuộc đời tên trộm kỳ lạ nhất trong lịch sử tội phạm nghệ thuật. Hơn 200 vụ trộm, Stéphane Breitwieser cùng bạn gái trót lọt đánh cắp bộ sưu tập trị giá gần 2 tỷ đô la chỉ để ngắm. Qua lời kể của nhà báo Michael Finkel, độc giả đắm chìm trong thế giới của những kỳ tích phạm tội, tình yêu cay đắng, sự ám ảnh khó tin. Động cơ của tên trộm khét tiếng Các tạp chí hàng đầu như New York Times, Wall Street Journal bình chọn tác phẩm này là cuốn sách của năm 2023. Michael Finkel dẫn dắt đưa độc giả ngược dòng thời gian của nhân vật chính Stéphane Breitwieser từ lúc nhỏ tới hiện tại (52 tuổi tại thời điểm xuất bản sách). Mặc dù thuộc thể loại phi tiểu thuyết, cuốn sách như truyện trinh thám hồi hộp, gay cấn nhờ tiết tấu nhanh và khai thác tâm lý nhân vật đa chiều. Kẻ trộm nghệ thuật kể về cuộc đời thực của Stéphane Breitwieser, người Pháp trầm lặng và say mê nghệ thuật điên cuồng. Hắn ưa thích đặc biệt nghệ thuật Phục Hưng (Renaissance) và Baroque từ nhỏ. Cha mẹ ly hôn để lại vết sẹo trong tâm hồn đứa trẻ yêu nghệ thuật vì bố của Stéphane được quyền sở hữu hết các tác phẩm trong nhà. Hắn chuyển sang sống với mẹ trong căn hộ tằn tiện, khác hẳn căn nhà rộng rãi với bộ sưu tập đồ cổ lúc cha mẹ còn hạnh phúc. Cú sốc tâm lý tuổi vị thành niên đã nung nấu động cơ một đứa trẻ mang tâm trạng bất mãn và hụt hẫng. Hắn khát khao xây dựng bộ sưu tập nghệ thuật cho riêng mình như viện bảo tàng thu nhỏ. Stéphane đồng hành cùng bạn gái Anne-Catherine thực hiện hàng loạt vụ trộm táo tợn trong các bảo tàng vừa và nhỏ trên khắp Châu Âu. Giá trị tài sản tác phẩm nghệ thuật hắn đánh cắp trong giai đoạn 1995 tới 2001 ước tính gần 2 tỷ đô la. Đáng ngạc nhiên là Stéphane không bán, mà lưu giữ chúng tại phòng ngủ áp mái vì tình yêu nghệ thuật điên rồ. Tác giả cân bằng được không khí hành động, hồi hộp đột nhập các viện bảo tàng và mổ xẻ được tâm lý chi phối nhân vật. Hắn say mê với cái đẹp hiện hữu, mắc chứng ái kỷ (yêu bản thân quá mức) và cơn nghiện (ăn cắp) khó thể từ bỏ. Tổng quan nửa đầu cuốn sách, phi vụ của Stéphane và bạn gái có thể ví von như cặp bài trùng Bonnie và Clyde, cặp đôi cướp táo tợn người Mỹ nổi danh từ thời kỳ Đại suy thoái (1932-1934). Bí kíp thành công của bộ đôi  “Bonnie và Clyde” Xuyên suốt cuốn sách, người đọc thâm nhập vào hàng trăm phi vụ trộm của cặp tình nhân trong các viện bảo tàng. Đâu là bí mật sau chuỗi dài thành công của Stéphane và Anne ? Chiến lược của hắn và bạn gái nhắm vào các bảo tàng địa phương quy mô nhỏ và vừa, an ninh kém như Gruyeres Castle, Thụy Sỹ (1995). Khá thú vị, họ chọn thời điểm ban ngày để trà trộn vào đám đông du khách. Stéphane chỉ lấy tranh, bỏ lại khung và những tác phẩm có kích thước nhỏ gọn, không bị gắn hệ thống báo động. Hắn thường giấu tranh dưới áo khoác hay túi hộp trong khi bạn gái đảm nhiệm vai trò quan sát, báo hiệu nếu ai đó tiếp cận. Hắn khôn ngoan chọn những bảo tàng không kiểm soát lối ra, không an ninh, do vậy tên trộm láu cá dễ dàng tẩu thoát như khách thăm quan. “Bộ đôi Bonnie và Clyde” của Pháp đã tung hoàng ngang dọc khắp bảo tàng tại khối Schengen như Đức, Áo, Bỉ, Thụy Sỹ, Hà Lan và Đan Mạch từ năm 1995 tới 2001. Đáng chú ý, Stéphane kiếm sống nhờ công việc bồi bàn tại Thụy Sỹ trong khi vẫn ở tại Pháp. Công việc có thu nhập khiêm tốn, bù lại lịch làm việc linh hoạt, di chuyển dễ dàng. Do vậy, việc đi lại xuyên biên giới của hắn không gây nghi ngờ cho cảnh sát biên giới. Chuỗi ngày thành công chính thức khép lại vào tháng 11 năm 2001 khi bộ đôi bị tóm gọn tại bảo tàng Richard Wagner ở Thụy Sỹ. Không như các phi vụ trước thực hiện trong ngày, Stéphane quay trở lại bảo tàng sau hai ngày, do vậy an ninh và nhân viên bảo tàng phát hiện, báo cảnh sát. Mổ xẻ tâm lý “ái kỷ” Dưới ngòi bút của Michael, nghệ thuật như một chiếc ô rộng lớn, che chắn cho tuổi thơ dữ dội của Stéphane. Hắn cô đơn, lạc lõng trong thế giới người trưởng thành cho nên nghệ thuật chính là bạn đồng hành về tinh thần. Tác giả mổ xẻ khá kỹ tâm lý nhân vật cho rằng Stéphane am hiểu nghệ thuật sâu sắc hơn cả các viện bảo tàng ! Chứng bệnh “ái kỷ” thúc đẩy suy nghĩ có quyền lấy những gì hắn thích và trở thành người hùng sau những vụ trộm. Thú vị hơn, sự đồng hành của bạn gái lâu năm lại là chất xúc tác mạnh cho bệnh ái kỷ. Hắn cho rằng mình tài năng và được bạn gái công nhận, trợ giúp tối đa. Sự ám ảnh nghệ thuật của Stéphane trở thành cơn nghiện khó cưỡng, với cấp độ rủi ro tăng cao dần. Hắn đạt được cảm xúc thăng hoa và nhẹ nhõm sau mỗi vụ trộm. Tuy nhiên, Stéphane không thể ngờ rằng điểm tựa tinh thần vào bạn gái chính là “gót chân Achilles”. Sau vụ bắt giữ năm 2001, họ đối mặt thực tế khắc nghiệt do bị truy tố, liên đới gia đình, sụp đổ ảo mộng. Michael lột tả sự tổn thương tột độ trong con người Stéphane khi Anne chia tay, giũ bỏ mọi trách nhiệm liên đới trong các vụ trộm của bộ đôi. Trong khoảng thời gian ngắn, hắn đánh mất tất cả : sự tự do, bạn gái, bộ sưu tập quý giá, danh tính kẻ sưu tập cổ vật. Theo cuốn sách, Stéphane còn không hề được biết vụ phá thai do Anne và mẹ hắn tiến hành một cách kín đáo. Ở góc độ nào đó, hắn vẫn là một đứa trẻ đầy mơ mộng, thiếu sự chăm sóc, dễ dàng bị người thân qua mặt. Bi kịch cuộc đời kẻ ám ảnh nghệ thuật Cuốn sách dần khép lại với cảm xúc hỗn độn về thế giới sụp đổ của Stéphane. Hương vị cay đắng, chua xót khi Anne bỏ rơi hắn, đặt dấu chấm hết cho thế giới ảo vọng bao bọc trong niềm vui chiến thắng, bảo tàng nghệ thuật và người tình. Hắn không thể chấp nhận thực tế rằng Anne có quyền lựa chọn tương lai khác mà không có hắn ! Đau đớn hơn, bảo tàng cá nhân dày công sưu tập đã chính thức “vô chủ” vì mẹ của Stéphane phi tang toàn bộ chiến tích nhằm cứu con mình khỏi bị truy tố. Sự mâu thuẫn, giằng xé tâm lý giữa hai mẹ con lên tới đỉnh điểm do động cơ khác biệt. Đây là bài học đắt giá về nuông chiều con cái, buông lỏng quản lý dẫn đến kết cục đáng thương của số phận con người. Sau khi ra tù, Stéphane có cơ hội gột rửa vết nhơ với nhiều lời đề nghị xuất bản sách hay bước sang truyền thông về thời trai trẻ “khét tiếng”. Tuy nhiên, sự ám ảnh nghệ thuật và bệnh ăn cắp lại hủy hoại giấc mơ làm lại cuộc đời. Năm 2011, cảnh sát khám xét nhà Stéphane, phát hiện thêm 30 tác phẩm nghệ thuật ăn cắp. Hắn tiếp tục kết án tù vào năm 2013 như vòng xoáy không thể dừng lại. Cuốn sách có những hạt sạn nhỏ như thời gian không khớp giữa những bộ phim tội phạm nổi tiếng Hollywood tương tự với những vụ trộm Stéphane tiến hành. Michael Finkel đã pha trộn tài tình giữa một cuốn hồi ký, tiểu sử, bi kịch, tâm lý tội phạm và bài học giáo dục sâu sắc chỉ trong 240 trang sách. (Theo Wikipedia, Guardian, New York Times, GQ) Michael Finkel, The Art Thief: A True Story of Love, Crime, and a Dangerous Obsession (Kẻ trộm nghệ thuật: Câu chuyện chân thực về tình yêu, tội phạm và sự ám ảnh nguy hiểm), NXB Knopf Publishing Group, 27/06/2023, 240 trang.

  19. 6

    Pháp : Công nghệ số đưa bảo tàng, di tích đến gần hơn với công chúng

    Làm thế nào để thu hút khách tham quan đến một di tích lịch sử, “giữ chân” họ trước một kiệt tác nghệ thuật từ những thế kỷ trước ? Làm thế nào để những sự kiện lịch sử đọng lại trong tâm trí khán giả ? Từ nhiều năm gần đây, kỹ thuật số trở thành công cụ không thể thiếu giúp các bảo tàng, di tích tại Pháp thay đổi cách tham quan và từng bước “dân chủ hóa” văn hóa, đặc biệt là từ đại dịch Covid-19. Mối quan hệ giữa giới trẻ và bảo tàng đã thay đổi từ gần 20 năm qua nhờ cách mạng kỹ thuật số. Nhưng hiện nay, quá trình chuyển đổi số các bảo tàng không còn là một lựa chọn mà là điều thiết yếu. Song song với những chuyến tham quan có hướng dẫn viên, bị khống chế thời gian, công chúng hoàn toàn có thể tự do khám phá bảo tàng, các tác phẩm, theo nhịp độ riêng nhờ “hướng dẫn viên ảo”. Sống trong lịch sử nhờ công nghệ Thiết bị nhỏ như băng cát-sét hoặc máy tính bảng được cung cấp kèm với tai nghe đưa người xem trở lại thời xưa với những âm thanh, tiếng ngựa, lời thoại. Đây là loại hình tham quan trải nghiệm (visite immersive), hướng dẫn dưới dạng ứng dụng. Người xem sẽ nhấn theo số được ghi cạnh một bức tranh hoặc một gian trừng bày. Hiện đại hơn sẽ là những bộ cảm biến trong phòng sẽ tự động đưa khách tham quan đến lời giới thiệu cần thiết. Lời giới thiệu thường khoảng một phút để khách tham quan không bị mất tập trung. Đọc thêmĐắm chìm trong "Đêm đầy sao" của Van Gogh nhờ công nghệ số Loại hình thứ hai là trải nghiệm ảo và tương tác (expériences virtuelles et interactives), “thật hơn” và hấp dẫn hơn. Các địa điểm du lịch đã thấy được hiệu quả của loại hình trải nghiệm này, rất thành công trong trò chơi thoát hiểm (Escape Game) và muốn áp dụng để đổi mới bản thân. Đây là nhận định của Antoine Hubart, phụ trách thương mại của công ty John Doe. Immersive Game, trụ sở tại Lille, khi trả lời RFI Tiếng Việt tại Hội chợ Du lịch Quốc tế Paris ngày 12/03/2026. “Họ muốn cung cấp những trải nghiệm mới cho những đối tượng hoàn toàn khác, những mục tiêu mà ban đầu họ không thể tiếp cận. Ví dụ, giới trẻ quan tâm nhiều hơn đến việc xem truyền hình hoặc sử dụng điện thoại, họ không hẳn thấy cần phải đến bảo tàng, thăm lâu đài, hoặc là đi bộ đường dài. Công ty chúng tôi cung cấp trò chơi, những trò chơi ít nhiều mang tính văn hóa, tùy thuộc vào địa điểm. Ví dụ, trong một lâu đài tập trung vào lịch sử Pháp, vào một vị vua cụ thể, chúng tôi sẽ tạo ra một trò chơi dựa trên vị vua đó, sử dụng các sự kiện lịch sử có thật, để khuyến khích giới trẻ đến chơi trò chơi đồng thời khám phá lịch sử của địa điểm, lịch sử của lâu đài. Chúng tôi cũng làm điều này trong hang động, trong hầm mỏ, trong bảo tàng. Kinh nghiệm này đã được chúng tôi làm với Bảo tàng xe bọc thép, liên quan đến vũ khí chiến tranh”. Hình thức tham quan trải nghiệm và thực tế ảo mang đến cho công chúng một môi trường hoành tráng, tạo cho trải nghiệm sâu sắc hơn, phong phú hơn và đã định hình lại kiểu tham quan bảo tàng, theo nhận định trong một bài viết của Solveig Tiby trên trang les-enovateurs ngày 20/09/2024. Công nghệ kết nối bảo tàng với thanh niên Năm 2025 đánh dấu năm kỷ lục về số lượng khách tham quan các bảo tàng và 100 di tích và khu vườn thuộc Trung tâm Di tích Quốc gia (CMN). Bảo tàng Louvre tại Paris tiếp tục phá vỡ kỷ lục số lượt khách tham quan (hơn 9 triệu lượt), theo tạp chí Le Quotidien de l’Art ngày 05/01/2026. Trong số này, tỷ lệ người trẻ dưới 26 tuổi tăng từ 41% lên 44%. Đây là xu hướng được tiếp nối từ những năm trước, giới trẻ quan tâm đến bảo tàng nhiều hơn nhờ mạng xã hội, muốn trải nghiệm từ trực tuyến đến xem thật. “Đó là một kiểu tham quan có hướng dẫn, ở bảo tàng chẳng hạn. Chúng tôi sẽ biến chuyến tham quan đó vui nhộn hơn nhờ điện thoại di động, biến khám phá thành một trải nghiệm theo cách khác, độc đáo hơn một chút, với những thông tin mà ban đầu chưa có. Khi tiến dần trong bảo tàng, điện thoại sẽ hướng dẫn chúng ta dừng lại ở một điểm cụ thể. Ứng dụng tải trước sẽ kể cho chúng ta một chút về lịch sử hoặc một vài giai thoại thú vị và đưa ra cả câu đố. Phải giải được câu đố đó để chuyển sang điểm tiếp theo. Lúc đó, điện thoại sẽ nói “Giờ thì bạn có thể đi tiếp” và tiếp tục từng điểm một. Sau khi tham quan xong, tất cả thông tin vẫn còn trên điện thoại. Khách tham quan có thể lưu lại hoặc nếu muốn tìm hiểu thêm, họ sẽ liên lạc với bảo tàng vì bảo tàng có tài liệu riêng”. Điện thoại, vật bất ly thân của giới trẻ, trở thành “hướng dẫn viên” và khi “vừa học vừa chơi”, họ sẽ cảm nhận, tiếp thu dễ dàng hơn, theo giải thích của Antoine Hubart : “Khách tham quan không cần thiết bị gì hết. Thiết bị sẽ được điều chỉnh tùy thuộc vào địa điểm. Dĩ nhiên nếu đi vào hang động, chúng tôi sẽ cung cấp mũ bảo hiểm để bảo đảm an toàn. Tùy thuộc vào địa điểm và mức độ an toàn, sẽ luôn có một số thiết bị tối thiểu. Nhưng nhìn chung, các trò chơi của chúng tôi được thiết kế dựa trên chính khung cảnh đó. Đa số trường hợp, khách tham quan chỉ cần điện thoại di động vì trò chơi được tải trước trên điện thoại, và họ có thể tiến được nhờ điện thoại. Hoặc một số trò chơi thì cần một cuốn sổ tay để giúp giải câu đố, khám phá mọi thứ để đi tiếp và đơn giản là vui chơi”. Đắm chìm trong dòng chảy nghệ thuật nhờ công nghệ kỹ thuật số Một ví dụ khác giải thích cho thành công của công nghệ kỹ thuật số trong hành trình đưa nghệ thuật, lịch sử đến với đông đảo công chúng là Trung tâm Nghệ thuật số Ateliers des Lumières tại Paris (thành lập năm 2018). Chủ trương của công ty chủ quản Culturespace (có 12 địa điểm trên thế giới) là giới thiệu các trào lưu nghệ thuật hoặc những nghệ sĩ nổi tiếng trong lịch sử nghệ thuật nhờ công nghệ AMIEX (Art, Musique Immersive Experience). Cùng một tác phẩm, khách tham quan sẽ có những góc nhìn khác nhau từ những vị trí khác nhau trong phòng triển lãm nhờ 140 máy chiếu chiếu lên tường và nền nhà. Ông Michael Couzigou, giám đốc Atelier des Lumières, giải thích với RFI tiếng Việt trong buổi khai mạc triển lãm Van Gogh, Đêm đầy sao (Van Gogh, La Nuit étoilée) ngày 22/02/2019 : “Ý tưởng của chúng tôi là kết hợp sự sáng tạo bằng hình ảnh, được thực hiện từ ảnh chụp các tác phẩm nghệ thuật, sau đó được số hóa, đi kèm với âm nhạc - được chọn lọc cho phù hợp hoặc được soạn riêng cho triển lãm - để tạo cảm xúc cho người xem và khiến họ đắm chìm trong dòng chảy nghệ thuật của triển lãm đó. Đây là một phương pháp khác lạ mà chúng ta không thể thấy được trong những bảo tàng truyền thống. Thêm vào đó, nhiệm vụ của Culturespace là cố gắng tiếp cận được với đông đảo công chúng nhất. Có nghĩa là chúng tôi muốn họ đến xem với cả gia đình, với con cháu để giúp các em khám phá nghệ thuật theo cách mới, có thể hiện đại hơn, năng động hơn”. Một ví dụ khác là chương trình AURA Invalides dưới mái vòm điện Invalides (Dôme des Invalides), nơi đặt quan tài của Napoléon, kéo dài 50 phút vào buổi tối, sau khi đóng cửa với công chúng. Trải nghiệm đa phương tiện sống động kết hợp  ánh sáng, nhạc giao hưởng và video mapping (kết hợp giữa công nghệ 3D và công nghệ làm phim) để tạo nên những hiệu ứng về hình ảnh, ánh sáng, âm thanh, kích thích tất cả các giác quan của người xem. Kỹ thuật số đã thay đổi sâu sắc sự tiếp cận, sản xuất và việc phổ biến văn hoá. Nó có thể giúp một tác phẩm được phổ biến ngoài biên giới địa lý. Một số nền tảng trực tuyến, như Google Art & Culture, Europeana, Gallica..., tham gia phổ biến văn hóa, cho phép công chúng được truy cập miễn phí vào nhiều tác phẩm. Hình thức này được thúc đẩy mạnh trong giai đoạn đại dịch Covid-19 khi cả thế giới bị phong tỏa, mọi hoạt động lưu thông gần như đình trệ. Nhiều bảo tàng đã tổ chức các triển lãm “ảo”, mở rộng thư viện “trực tuyến” để đưa lịch sử, nghệ thuật đến công chúng. Đọc thêmCovid-19 : Tham quan trực tuyến các bảo tàng Kỹ thuật số đã khiến bảo tàng, văn hóa có thể tiếp cận được ở mọi lúc, mọi nơi. Khách tham quan có thể trải nghiệm theo cách riêng, nhịp độ riêng, không cần phải chờ hoặc chen chúc trong các phòng triển lãm mà vẫn có thể chiêm ngưỡng được tác phẩm. Điểm trừ duy nhất là không thể được tận mắt thấy tác phẩm. Trong hành trình đa dạng hóa kỹ thuật số các dịch vụ, rất nhiều doanh nghiệp chuyên ngành đồng hành cùng các bảo tàng, ví dụ John Doe, công ty có 5 chi nhánh tại Pháp (Lille, Strasbourg, Lyon, Bordeaux, Nantes), theo giải thích của Antoine Hubart : “Chúng tôi đang thảo luận với rất nhiều bên liên quan. Hiện tại, chúng tôi đang thiết kế một trò chơi, tôi không được phép tiết lộ tên. Ngoài ra, còn có bốn lâu đài ở Pháp, (thiết kế trò chơi trong hai tàu hỏa, một nhà máy, hai hầm mỏ và ba hang động cũng quan tâm. Chúng tôi có khoảng 10 đến 15 dự án. Và tất cả chỉ mới là cách đây vài tháng kể từ khi chúng tôi thực sự bắt đầu chủ động tìm kiếm các địa điểm du lịch, thay vì chờ họ liên hệ với chúng tôi. Thời gian để thực hiện mỗi dự án có thể từ ba tháng (ngắn nhất) nếu cần gấp và không quá phức tạp, đến một năm, chi tiết hơn, được làm cẩn thận hơn”. Đọc thêmLouvre ra mắt 480.000 tác phẩm trên trang web mới Tuy nhiên, theo Christian Sermet, không phải bất kỳ bảo tàng hay di tích nào cũng có thể triển khai trải nghiệm ảo và tương tác vì chi phí tương đối tốn kém. Ngoài ra, màn hình cũng có thể khiến khách tham quan bị sao nhãng, nhất là thanh niên. Họ có xu hướng nhìn vào màn hình nhiều hơn là tác phẩm và như vậy khó có thể cảm nhận trọn vẹn triển lãm hoặc tác phẩm.

  20. 5

    Roch Voisine : 40 năm sự nghiệp sân khấu

    Trong năm 2026, Roch Voisine trở lại dưới ánh đèn sân khấu với chuyến lưu diễn ban đầu tại Canada rồi sau đó trên khắp nước Pháp, nơi anh vẫn có nhiều người hâm mộ trung thành. Đợt lưu diễn này cũng đánh dấu 40 năm sự nghiệp ghi âm của nam danh ca người Canada, album phòng thu đầu tiên của anh mang tựa đề "Sweet songs" từng được phát hành vào năm 1986.  Sinh trưởng tai bang Nouveau Brunswick, miền duyên hải phía đông Canada, Roch Voisine ban đầu nuôi mộng trở thành vận động viên (hockey) chuyên nghiệp, nhưng sau khi bi chấn thương, anh buộc phải chuyển hướng sang ngành truyền hình, rồi sáng tác âm nhạc.  Đối với những người hâm mộ Roch Voisine, đây là cơ hội để gặp lại nghệ sĩ người Canada. Tên tuổi của anh luôn được gắn liền với bản nhạc kinh điển "Hélène" phát hành vào năm 1989. Đây là ca khúc chủ đạo trich từ album phòng thu thứ ba của anh. Trong tiếng Việt, bản nhạc này từng được tác giả Khúc Lan đặt lời thành "Hélène (Khi em rời xa)". Bài này còn có một lời thứ nhì là "Tình theo gió bay" qua phần ghi âm của Khánh Dung. Quả thật, Roch Voisine đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhiều thế hệ thính giả với ca khúc nổi tiếng này. Nhưng đằng sau thành công vượt bậc ấy cũng có phần nào một chút thất vọng, như anh từng chia sẻ với báo chí Pháp. Theo Roch Voisine, vào năm 1989, bài hát "Hélène" đã đưa tên tuổi của anh lên đỉnh cao và kể từ đó đã thay đổi nhiều thứ đối với ca sĩ trẻ tuổi. Gần bốn thập niên sau, chỉ cần vài nốt nhạc dạo đầu bằng tiếng đàn ghi ta, cũng đủ để khơi gợi lại nhiều kỷ niệm cho giới hâm mộ. Tuy nhiên, bài hát này lại có tác động bất ngờ mà chỉ có người trong cuộc mới nhin thấy. Thành công rực rỡ của bài hát che khuất phần còn lại sau này trong sự nghiệp của Roch Voisine. Mặc dù đã phát hành 22 album và thu âm hơn 250 bài hát trong 4 thập niên qua, nhưng Roch Voisine thường bị đánh giá thấp, như thể suốt đời, anh chỉ được biết đến nhờ một bài hát duy nhất. Với  thời gian, Roch Voisine dường như đã chấp nhận cách nhìn hơi đơn giản này. Dẫu sao, anh cũng may mắn khi có ít nhất một bài hát thành công vượt bực trên thị trường quốc tế. Anh dành nhiều thời gian hơn để trao dồi sáng tác, khám phá những khía cạnh khác trong nghề biểu diễn, đặc biệt ngày trở lại dưới ánh đèn sân khấu trong năm 2026 cũng là dip để Roch Voisine tôn vinh tác giả Gordon Lightfoot, một trong những thần tượng của anh. Trong thời kỳ huy hoàng sự nghiệp (vào giữa những năm 1990) tên tuổi của Roch Voisine lẫ y lừng không thua gì Patrick Bruel hay Florent Pagny.Tuy nhiên, nghệ sĩ người Canada chưa bao giờ để cho bản thân minh bị cuốn vào vòng xoáy của thành công. Sau các buổi biểu diễn ở khắp nơi, Roch Voisine cho biết anh chỉ muốn trở về nguyên quán, tìm lại căn nhà nhỏ bên bờ hồ. Anh thích một cuộc sống bình thường. Sự ổn định trong đời sống tựa như một tấm lá chắn bảo vệ anh trước sức cám dỗ của tiền tài, danh vọng. Khi mới vào nghề, Roch Voisine đã có một lối suy nghĩ chín chắn trưởng thành, khác xa với hình ảnh của những ngôi sao nhạc trẻ thành công quá nhanh, bị đẩy quá sớm vào ánh hào quang danh vọng. Ngay cả giờ đây, trong thời gian ở Canada, anh thích sống ở vùng nông thôn, xa lánh chốn thành thi ồn ào huyên náo.  Với chuyến lưu diễn trong năm 2026, Roch Voisine muốn kết nối lại với khán giả của mình, đền đáp tình cảm ưu ái của người hâm mộ. Vòng lưu diễn Canada và sau đó đến nước Pháp là dịp để cho các fan nghe lại nhạc phẩm "Hélène" cũng như nhiều bài hát khác của anh. Càng rong ruổi trên những chặng đường lưu diễn, nay đây mai đó, Roch Voisine lai càng khao khát tìm lại căn nhà bên dòng nước, nhìn mặt hồ lúc hoàng hôn, chốn bình an trong tâm hồn.

  21. 4

    Thư viện Quốc gia Pháp và "Cánh cửa giao thoa văn hóa Pháp - Việt"

    Trong khuôn khổ các hoạt động của Thư viện Quốc gia Pháp BnF (Thư viện François Mitterrand), chương trình hội thảo "Pháp-Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" đã được khởi xướng từ năm 2017 nhằm giới thiệu các nghiên cứu mới về giao lưu văn hóa giữa Pháp và Việt Nam, với nhiều chủ đề đa dạng, đặc biệt là liên quan đến lịch sử văn hóa và khoa học nhân văn, khoa học xã hội.   Các phiên hội thảo, nay là dưới hình thức trực tuyến qua nền tảng Zoom, được tổ chức vào một ngày thứ Năm mỗi tháng. Trong niên khóa 2025-2026, các buổi hội thảo đã đề cập đến những chủ đề rất đa dạng, như "Lịch sử của các nhân viên người Việt Nam và Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp qua các tài liệu lưu trữ (1942-1965)", "Sự phát triển của văn hóa phản kháng thực dân công khai ở Sài Gòn thông qua báo chí độc lập (1900-1930)" hay "Các vấn đề và thách thức của cộng đồng Pháp ngữ tại Việt Nam"...  Chương trình "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" niên khóa 2025-2026 đã khép lại vào ngày 21/05/2026, với cuộc hội thảo về chủ đề “Từ điển nhập môn để hiểu về Việt Nam: Một cách tiếp cận văn hóa xã hội” với diễn giả là ông Yves Duchère, một chuyên gia về Đông Nam Á và về Việt Nam, hiện làm việc tại Đại học Trung văn Hồng Kông (Chinese University of Hong Kong), Thâm Quyến, Trung Quốc. Chương trình hội thảo sẽ được mở lại vào tháng 11/2026 cho đến tháng 5/2027. Người khởi xướng và thực hiện chương trình này từ năm 2017 chính là tiến sĩ Nguyễn Giáng Hương, hiện đang phụ trách kho sách Đông Dương tại Thư viện Quốc gia Pháp. Đến niên khóa 2025-2026, cô mời nhà sử học François Guillemot, Viện Khảo cổ học Phương Đông (IAO), đồng tham gia tổ chức. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 26/05/2026 tại Thư viện Quốc gia Pháp, cô Nguyễn Giáng Hương cho biết: "Chương trình hội thảo "Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" trong thời gian đầu là nằm trong chương trình hợp tác quốc tế giữa Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Quốc gia Pháp và trường Đại học Sư phạm Cao cấp - ENS Paris. Trong những năm đầu, chương trình này được tổ chức ngay tại trường ENS, với hình thức là mời một diễn giả tham gia thuyết trình mỗi tháng một lần và chương trình kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 hoặc tháng 6. Lý do đầu tiên mà chúng tôi có ý tưởng làm chương trình séminaire (hội thảo) này là khi mà chúng tôi bắt đầu triển khai dự án số hóa kho sách Đông Dương. Vì vậy tên gọi của chuỗi hội thảo này bắt đầu bằng France - Việt Nam. Cổng thông tin của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện Quốc gia Pháp cũng bắt đầu bằng chữ France - Việt Nam. Trong những buổi đầu tiên, nhất là chương trình của năm đầu, chúng tôi tập trung vào các mảng khác nhau về kho sách Đông Dương, nhằm tạo được hiệu ứng về về truyền thông, cũng như gây sự chú ý cho cộng đồng khoa học. Sau đó chương trình được tiếp nối bằng các bài thuyết trình khác và ngày càng được mở rộng, đầu tiên là chương trình được sự quan tâm của cộng đồng nghiên cứu quốc tế, sau đó có những tác giả hay những nhà nghiên cứu cũng tự đề xuất những ý tưởng cũng như những bài thuyết trình mới. Chúng tôi cố gắng duy trì cho đến ngày hôm nay. Kết quả vượt qua cả sự mong đợi là chương trình đã được sự đón nhận rất rộng rãi của các học giả cũng như những người quan tâm về giao lưu văn hóa Việt - Pháp. Chương trình của chúng tôi luôn duy trì một lượng khán thính giả nhất định. Từ khủng hoảng Covid, chúng tôi đã mở rộng chương trình theo hình thức trực tuyến online, thì cũng có một điều hay là mình có thể đón nhận được các thính giả từ nước ngoài, ở Việt Nam, ở Mỹ, hay ở các nước khác của châu Âu. Thứ hai là chúng tôi cũng cố gắng mời các diễn giả ở những nước khác nhau và từ nhiều lĩnh vực khác nhau về khoa học xã hội và nhân văn, qua đó giúp chúng tôi có những góc nhìn khác nhau của các tác giả. Có thể là về cùng một lĩnh vực nhưng góc nhìn của một diễn giả ở châu Á sẽ khác với một diễn giả ở Pháp hay một diễn giả ở Mỹ. Chương trình này đã tạo nên một diễn đàn để các nhà nghiên cứu có thể đối thoại với nhau và chúng tôi cũng rất là cởi mở khi có những người không phải trong ngành nhưng quan tâm, hoặc thậm chí những nhân chứng có thể tham gia và có thể kể câu chuyện của riêng mình." Theo lời Nguyễn Giáng Hương, những bài thuyết trình trong khuôn khổ chương trình hội thảo "Pháp -Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa" hiện đã được đưa lên một trang web để mọi người có tham khảo dễ dàng: "Thời gian trước thì tôi có xin một số diễn giả cho dùng lại hoặc là công bố bài thuyết trình của họ. Tôi cũng đã lập ra một website riêng của chương trình này, cũng có tên là "France Vietnam: Le portail entre les cultures", (Pháp - Việt Nam: Cánh cửa giao thoa văn hóa). Dĩ nhiên hiện nay nó vẫn ở dạng như một blog còn hơi thô sơ. Dự định trong tương lai thì có thể sẽ tuyển lựa những bài hay nhất để chúng ta làm một công trình. Thực ra là trước đây, trong một số năm chúng tôi có điều kiện về mặt tài chính cũng như nhân lực để làm hội thảo tổng kết lại một năm thuyết trình. Từ những hội thảo đó thì chúng tôi cũng đã ra được hai ấn bản đúc kết lại những bài thuyết trình của các các diễn giả trong năm." Thư viện số Pháp-Việt : 2.000 tài liệu đặc sắc làm cầu nối giữa di sản Pháp-Việt Thư viện Quốc gia Pháp còn có một thư viện số song ngữ Pháp-Việt, quy tụ những tài liệu phản ánh những tương tác văn hóa, lịch sử, thuộc địa và khoa học giữa hai nước từ thế kỷ 17 đến năm 1954. Ra đời từ sự hợp tác giữa Thư viện Quốc gia Pháp và Thư viện Quốc gia Việt Nam (nay có sự tham gia của Trung tâm Hợp tác Quốc tế Nghiên cứu Nông nghiệp vì Phát triển - CIRAD), thư viện này là một phần của bộ sưu tập Di sản Chung, minh chứng cho mối quan hệ giữa Pháp và thế giới qua nhiều thế kỷ. Thư viện số Pháp-Việt đóng vai trò là cầu nối giữa di sản Pháp và Việt Nam, quy tụ hơn 2.000 tài liệu đặc sắc, tất cả đều có thể được truy cập toàn bộ. Thư viện bao gồm một bộ sưu tập đa dạng các tài liệu in ấn, bản thảo, bản đồ, tranh vẽ và ảnh chụp, được lấy từ các bộ sưu tập của Pháp và Việt Nam. Ngoài ra, khoảng hai mươi văn bản gốc do các chuyên gia, nhà nghiên cứu và người phụ trách bảo tàng người Pháp và Việt Nam giúp người đọc hiểu biết hiểu biết sâu sắc hơn nội dung và bối cảnh của các tài liệu đó. Đối với Nguyễn Giáng Hương, thư viện số Pháp-Việt có vai trò rất quan trọng giúp hiểu được toàn cảnh về xã hội, đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ Đông Dương: "Thư viện quốc gia tức là thư viện lưu trữ tất cả những di sản của một quốc gia, nhưng thực ra Thư viện Quốc gia Pháp còn lưu trữ những di sản của nhân loại, trong đó lịch sử của Việt Nam cũng nằm trong dòng chảy của nhân loại. Cụ thể, trong trường hợp Việt Nam với Pháp thì lịch sử chung đã có từ nhiều thế kỷ nay. Vì vậy mà cuốn sách đầu tiên có thể đánh dấu sự tồn tại của tiếng Việt ở thư viện này có lẽ là quyển từ điển Việt - Bồ - La. Cuốn từ điển này từ thế kỷ thứ 16 đã được coi như là cuốn sách đầu tiên. Sau đó Thư viện Quốc gia Pháp cũng thu nhận qua nhiều nguồn khác nhau những sách không chỉ là song ngữ mà có cả sách bằng tiếng Việt, thậm chí là bằng chữ Hán, chữ Nôm của một số nhà viễn du Pháp ngày xưa khi trở về họ mang lại một số văn bản mà họ có được và họ tặng lại cho thư viện. Nói chung có rất nhiều tổ chức nghiên cứu về Việt Nam cho sách và sau đấy thì số lượng sách về Việt Nam mà bằng tiếng Việt tới ngày càng nhiều, nhất là kể từ năm 1922, khi có luật về nộp lưu chiểu ở Đông Dương. Thế là hiện nay, kho sách Đông Dương bằng tiếng Việt là có trên 12.000 ấn bản. Đó là  tính riêng về sách thôi. Còn số lượng về báo chí thì cũng độ khoảng vài chục ngàn đầu báo. Chúng ta phải biết mỗi đầu báo là có thể là có nhiều số báo. Số lượng báo rất nhiều. Ấy là chưa kể các bưu ảnh và tất cả nhiều nhiều loại khác nữa. Thậm chí ngày nay, những tư liệu về âm thanh, về hình ảnh liên quan đến Việt Nam cũng có ở Thư viện Quốc gia Pháp. Tức là liên quan đến Việt Nam hoặc  Đông Dương thì mình có những tư liệu bằng tiếng Việt, bằng tiếng Pháp và bằng những ngôn ngữ khác nữa. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc nghiên cứu và tìm hiểu Việt Nam nói chung và mối quan hệ Việt - Pháp nói riêng. Kho sách, đặc biệt là kho sách Đông Dương, mang lại cho chúng ta một cái nhìn toàn cảnh về xã hội Việt Nam ở thời kỳ Đông Dương, về đời sống văn hóa, nghệ thuật và tri thức của Việt Nam thời kỳ đó. Đấy là một mảng sách vô cùng quan trọng."

  22. 3

    Tác phẩm điện ảnh "Mắt nhắm hờ" : Những bí ẩn và thuyết âm mưu

    Mắt nhắm hờ (Eyes wide shut) là bộ phim cuối cùng của nhà làm phim vĩ đại người Anh, Stanley Kubrick. Tại thời điểm ra mắt (năm 1999), Kubrick đột ngột qua đời khiến cho bộ phim có nhiều tranh luận và câu hỏi bỏ ngỏ. Sau hơn một phần tư thế kỷ, giới hâm mộ đào xới lại tác phẩm vì có nhiều trùng hợp, liên quan tới hồ sơ tỷ phú ấu dâm người Mỹ Epstein. Bề nổi tảng băng Bộ phim phản ánh mối quan hệ vợ chồng bấp bênh trước cám dỗ tình dục. Tài tử Tom Cruise và Nicole Kidman hóa thân vào cặp vợ chồng thượng lưu Bill và Anna sinh sống tại New York. Họ có cuộc sống hoàn hảo đến mức ghen tỵ : chồng là bác sỹ và họ có cô con gái xinh đẹp 7 tuổi. Mọi chuyện thay đổi 180 độ sau khi họ tham dự tiệc Giáng sinh tại dinh thự tỷ phú Victor Ziegler. Những biến cố tại bữa tiệc cộng thêm hơi men, Anna tiết lộ cô từng suýt có mối quan hệ với sỹ quan Hải quân trong một kỳ nghỉ. Ám ảnh bởi câu chuyện vợ kể, Bill dấn thân vào hành trình khám phá bản ngã. Anh gặp gỡ gái điếm trên đường về nhà, vô tình gặp lại Nick, người bạn học trường Y tại quán bar nhỏ. Vị bác sỹ lạc vào thế giới ăn chơi của giới siêu giàu nhờ mật khẩu Nick cung cấp. Bill tận mắt chứng kiện bữa tiệc truy hoan tập thể khi tất cả quan khách đều đeo mặt nạ. Tuy nhiên, Bill bị trục xuất khỏi bữa tiệc do bị lộ danh tính, đồng thời, anh gặp nhiều rắc rối bí ẩn và mối đe dọa. Bill tìm về gia đình, tìm cách đối thoại với Anna để hàn gắn tình cảm. Đan xen giấc mơ và thực tại Trường đoạn ấn tượng và gây sốc nhất phim là bác sỹ Bill chứng kiến bữa tiệc truy hoan hoành tráng theo nghi thức tôn giáo. Hãng Warner Bros phải sử dụng kỹ thuật CGI để làm mờ cảnh nóng nhằm đạt kiểm duyệt R. Giáo chủ giấu mặt trong tông màu đỏ điều khiển nghi thức giữa các cô gái khỏa thân vòng tròn như vật tế thần, sau đó, tỏa đi khắp nơi phục vụ khách trong phòng riêng. Tiệc truy hoan không phải một sự kiện đơn lập, mà là giấc mơ tái hiện buổi tiệc Giáng sinh tại nhà riêng Ziegler nơi Bill chưa nắm được “thâm cung bí sử”. Nhân vật bí ẩn, gái điếm Mandy, không ngẫu nhiên chọn Bill để “mua vui”, mà thực chất cảm ơn anh cứu sống (dưới tên khác Amanda). Khi Bill bị lột mặt nạ và đối mặt với sự trừng phạt, cô gái bí ẩn ra tay can thiệp “Hãy để anh ta đi, tôi sẽ chuộc tội.” Vị giáo chủ nói “Không có gì thay đổi số phận cô ta nữa”, ám chỉ cái chết tất yếu với nhân vật. Nói cách khác, Mandy phải chết để bảo vệ danh tính cho tỷ phú Ziegler và các khách cấp cao. Đạo diễn Stanley sử dụng lời thoại ẩn ý và tâm lý tương đồng giữa hai bối cảnh trên. Giáo chủ chính là hiện thân của tỷ phú quyền lực Ziegler, cô gái cứu mạng Bill chính là Amanda. Trước khi rời khỏi bữa tiệc bí ẩn, vị giáo chủ đe dọa Bill “Nếu anh kể với bất cứ ai những gì nhìn thấy, anh và gia đình anh sẽ có kết cục bi thảm!” Lời nhắn nhủ này khớp logic với đối thoại Ziegler và Bill sau vụ tai nạn phòng tắm “Chuyện này chỉ có hai chúng ta biết.” Cuộc đối thoại trực diện sau đó giữa Bill và Ziegler xác nhận giả thuyết trên. Mặc dù, tỷ phú Ziegler chối bỏ liên quan tới cái chết Mandy nhưng Bill vẫn tin rằng cô bị sát hại. Phần chìm tảng băng Ngụp lặn sâu dưới bề nổi truyện phim, đạo diễn phơi bày mảng tối xã hội thượng lưu, nơi bị đồng tiền chi phối sâu sắc. Thông qua trang phục, bối cảnh quay, màu sắc sử dụng đặc tả thông điệp đó: "Đỏ" tượng trưng tình dục, "Xanh" cho tiền bạc, "Tím" pha trộn cả hai. Qua lăng kính nhân vật chính, bác sỹ chuyên khám bệnh cho giới siêu giàu, khán giả bị ngợp bởi cách tiêu xài hoang phí. Bill sẵn sàng vung tiền cho gái bán hoa mặc dù không qua đêm, trả giá siêu hời thuê trang phục hay thuê tài xế taxi. Tiền bạc dư dả có phải là nguyên nhân sự đổ vỡ hôn nhân và tha hóa đạo đức ? Bill đang chới với giữa làn ranh giới đó, còn tỷ phú Ziegler thì sao ? Hắn là hình mẫu điển hình của giới tài phiệt ăn chơi trác táng. Mở đầu phim, Ziegler sánh đôi với vợ tại tiệc Giáng sinh, chào hỏi vợ chồng Bill niềm nở. Sau đó, lớp mặt nạ Ziegler bị bóc trần khi xảy ra tai nạn giường chiếu với người mẫu khỏa thân tại phòng riêng. Tuyến nhân vật phụ được xây dựng khá cuốn hút, điển hình Nick Nightgale, tay chơi piano bạn học của Bill. Khi Bill nói “Giờ bạn tôi trở thành nghệ sỹ piano” và Nick hóm hỉnh đáp lại “Bạn bè thường gọi tôi vậy.” Khán giả lập tức hiểu ngay rằng anh ta không phải tay chơi piano bình thường. Liên quan tới cả hai bữa tiệc giới siêu giàu, Nick gợi ý cấp mật khẩu cho Bill tới bữa tiệc truy hoan. Đạo diễn ngầm ám chỉ Nick là một “Tú ông” lịch lãm, chuyên cung cấp gái gọi cho các tỷ phú. Hai cô gái trẻ quấn quýt không rời Bill chính là gái điếm mua vui cho quan khách, họ xuất hiện rất nhanh sau khi Nick được gọi. Ngoài ra, nhân vật bí ẩn khác trên ban công, nhận ra sự xuất hiện của Bill, dẫn dắt cô gái khác để hẹn hò riêng. Phải chăng đây là người liên quan tới “Tú ông” Nick ? Thuyết âm mưu với tựa đề “Mắt nhắm hờ” Dưới lớp mặt nạ, khán giả không thể đoán chính xác danh tính nhân vật bí ẩn tại bữa tiệc truy hoan. Đây vừa thủ pháp nghệ thuật của Kubrick, vừa là trò chơi phán đoán sự tương đồng tính cách, logic tâm lý dành cho khán giả. Lạc giữa hai thế giới sáng và tối, nhân vật chính chịu va đập dữ dội giữa đạo đức, ham muốn và sự thật phũ phàng của thế giới thượng lưu. Cách Ziegler đáp trả lạnh lùng Bill về cái chết người mẫu Mandy trên mặt báo: “Cô ta chỉ là gái điếm, chết vì phê ma túy”. Phải chăng số phận con người quá rẻ mạt, đặc biệt những người mẫu nhập cư để làm nô lệ tình dục cho các tỷ phú. Ziegler cũng cảnh báo Bill sẽ không bao giờ biết được danh phận những quan khách đeo mặt nạ tại bữa tiệc. Vì họ có quyền lực tối thượng hay tiềm lực tài chính khủng khiếp ? Thông điệp này làm dấy lên thuyết âm mưu rằng đạo diễn Kubrick ám chỉ tỷ phú ấu dâm Epstein, người đã chết trong tù năm 2019 mang theo vô vàn bí mật. Trên thực tế, đạo diễn chuyển thể rất trung thành tiểu thuyết Câu chuyện Giấc mơ (Rhapsody: A Dream Novel, tựa đề tiếng Đức Traumnovelle) của nhà văn Áo Arthur Schnitzler, phát hành năm 1926. Ông chỉ thay đổi bối cảnh Vienna sang New York cho phù hợp thời đại. Thú vị hơn, tổng thời gian quay phim lên tới 400 ngày, lập kỷ lục Guiness, mang đậm phong cách tỷ mẩn của Kubrick. Dưới góc nhìn bình dị hơn, Bill bị sốc khi ông chủ tiệm thuê đồ sẵn sàng kiếm tiền trên thân xác con gái ruột. “Chúng tôi đã đạt được thỏa thuận.” Đó là cách chủ tiệm thuê đồ nói về hai gã đàn ông sàm sỡ con gái ông đêm trước. Kết thúc phim, Kubrick khiến khán giả cảm giác bất an trước hình ảnh con gái Bill đi theo hai gã đàn ông lạ mặt. Liệu vòng xoáy buôn người và những thế lực ngầm có thể bị đánh bại ? Hình ảnh cô đọng nhất của Mắt Nhắm Hờ có lẽ là bàn billard màu đỏ nơi diễn ra cuộc đối thoại nảy lửa giữa Bill và Ziegler. Nhân vật tỷ phú sử dụng tình dục như một trò chơi kiểm soát quyền lực, xây dựng tài sản và mạng lưới thân cận. Xuyên suốt hành trình phim, nhân vật Bill cuối cùng nhận ra được  rằng mình chỉ là một trong số vô vàn quả bóng trên bàn billard phục vụ lợi ích của giới tài phiệt. Cái giỏi của Kubrick không đưa ra câu trả lời, mà đặt ra nhiều câu hỏi hóc búa cho người xem. (Theo Telegraph, Variety, Wikipedia)

  23. 2

    Pháp: Hà My Nguyễn và "câu chuyện của tôi" qua những tác phẩm nghệ thuật bằng gốm

    Tại Galerie Bao, chuyên về nghệ thuật đương đại Việt Nam, ở Paris, nghệ sĩ Hà My Nguyễn vừa kết thúc triển lãm cá nhân đầu tiên của cô tại thủ đô Pháp ( 12/03 đến 02/05 ) với tiêu đề “Thịt Ươm Lá, Nhựa Tươm Mầm” ( "Chair et Feuille, Sève et Graine" ), giới thiệu những tác phẩm bằng chất liệu gốm. Trước đó, vào tháng 10/2025, tại Asia Now, triển lãm nghệ thuật đương đại châu Á ở Paris, cũng Galerie Bao đã tổ chức một triển lãm riêng cho nghệ sĩ Hà My Nguyễn với tiêu đề này. Nhờ những cuộc triển lãm đó mà tên tuổi của Hà My được biết đến nhiều hơn trong giới nghệ thuật Paris, nơi vẫn được xem là thủ đô của văn hóa thế giới, không dễ gì chen chân vào. Sinh năm 1991, Hà My Nguyễn ban đầu theo học nghề sơn mài truyền thống tại Đại học Nghệ thuật Huế, nơi cô phát triển thực hành nghệ thuật trước khi theo chồng sang định cư ở Paris vào năm 2018. Nay làm việc chủ yếu với chất liệu gốm sứ, bức vẽ và sắp đặt, thực hành nghệ thuật của Hà My hình dung ra những hình thức tồn tại trong không gian chuyển tiếp giữa con người, thực vật và trí tưởng tượng.  Trước các cuộc triển lãm do Galerie Bao tổ chức, Hà My Nguyễn cũng đã có mặt tại nhiều triển lãm khác ở Pháp, như ở Paris năm 2024, Roubaix năm 2023 và Paris năm 2022,  Nhân dịp Hà My Nguyễn tham gia một cuộc triển lãm nhóm với tiêu đề " O DES ORIGINES" tại Trung tâm Nghệ thuật đương đại Tignous, ở thị trấn Montreuil, ngoại ô Paris ( 07/05 đến 18/07/2026 ), RFI đã đến xưởng làm việc của Hà My và thực hiện cuộc phỏng vấn sau đây: RFI: Hôm nay, RFI Việt ngữ rất vui mừng được tiếp chuyện với Hà My Nguyễn tại xưởng làm việc của nghệ sĩ ở Paris. Đầu tiên, chúng ta trở ngược lại thời gian từ khi Hà My bắt đầu theo học Đại học Nghệ Thuật Huế và theo chuyên ngành về sơn mài. Động lực nào đã thúc đẩy Hà My theo môn sơn mài này? Hà My Nguyễn: Dạ, thực ra lúc đầu, trước khi em vào Đại học Nghệ thuật Huế, từ năm thứ 3, mình bắt đầu chọn các chuyên ngành mình muốn theo học. Khoa của em gọi là khoa chuyên về mỹ thuật ứng dụng. Hồi nhỏ, hay là sau này, hay ngay cả bây giờ, em luôn luôn muốn làm cái gì đó thiên về tay chân hơn, chạm tới chất liệu nhiều hơn. Hoàn toàn em đi theo một quá trình gần như gắn với lịch sử gia đình, như ông ngoại em thì làm thợ rèn, ba em thì làm thợ mộc. Rồi sau này em thích vẽ các kiểu, rồi em chọn học nghệ thuật, em vào trường và chọn sơn mài. Đơn giản như vậy. Sau khi bắt đầu năm thứ ba ở trường Đại học Nghệ thuật Huế, em có cơ hội tiếp xúc với một vài anh chị em nghệ sĩ ở Huế, từ đó em thấy đời sống của nghệ sĩ rất là thú vị, làm sáng tác rất là thú vị, thì em bắt đầu làm một vài tác phẩm nghệ thuật. Từ đó cho đến năm 2015 khi em tốt nghiệp, rồi sau đó đến 2017, em vẫn chưa làm được nhiều, nhưng đã có triển lãm một vài nơi ở Huế, Hà Nội, ở một số nước Đông Nam Á như Thái Lan hoặc Indonesia. Bắt đầu từ năm 2017 thì em tự định hình cho mình đây là một con đường mình phải đi, đó là sáng tác, theo đuổi con đường làm nghệ thuật và mình sẽ làm nghệ sĩ. RFI: Con đường đó là nghệ thuật đương đại. Nhưng vì sao từ khởi đầu là sơn mài, bây giờ chúng tôi thấy Hà My chuyển hẳn sang chất liệu gớm. Vì sao có sự thay đổi này? Hà My Nguyễn: Đối với em chất liệu thực ra chỉ là một phương tiện để diễn giải nghệ thuật của mình. Lần đầu tiên em tiếp xúc với gốm là vào năm 2017, trong một chương trình nhiệm trú sáng tác nghệ thuật tại Heritage Space ở Hà Nội, em làm một loạt tác phẩm bằng gốm. Từ sau chương trình đó, em thấy chất liệu gốm rất là thú vị, có nhiều thách thức đối với em và em muốn khám phá chất liệu này nhiều hơn. Em thích chất liệu này vì nó có thể diễn tả về mặt cảm xúc nhiều hơn, trong quá trình làm việc.  RFI: Sử dụng chất liệu gốm sứ, như Hà My nói, là một thách đố đối với một người nghệ sĩ. Thứ nhất, gốm thì cần phải nung cho vừa đúng độ chín, theo đúng ý mình muốn. Thứ hai là tìm đúng chất liệu sao cho phù hợp với ý đồ nghệ thuật của mình. Vậy thì ở bên Pháp này Hà My tìm như thế nào  và sử dụng các chất liệu như thế nào? Hà My Nguyễn: Thưa anh, thực ra làm gốm thì em toàn tự học hết. Em không đi học một trường nào cả. May mắn là ở đây mình ra cửa hàng mua chất liệu thì thông tin rất là đầy đủ. Ví dụ các thông tin về loại đất nào, loại men nào, nung ở nhiệt độ nào, có ghi hết trên tất cả các chất liệu. Việc của mình là mua về, mình sẽ thử nghiệm nung đúng ở nhiệt độ đó, mình sẽ thử nghiệm để cho ra cái màu nào. Mình phải thử nghiệm một vài lần, nhiều lần, có nhiều sai sót thì mới ra được một sản phẩm cuối cùng tốt đẹp. Bằng việc kết hợp xem thông tin ở các cửa hàng, học trên các nền tảng xã hội như YouTube, rồi em follow nhiều người làm gốm, rồi bằng sách vở, em tự mày mò làm thôi ạ. RFI: Chắc là công việc này rất là căng thẳng? Tại vì làm một tác phẩm xong chúng ta nung nó lên thì không biết khi nào là vừa đúng, có thể là mình lấy ra sớm quá, hoặc là lấy ra trễ quá. Tâm trạng của Hà My lúc đó như thế nào? Hà My Nguyễn: Dạ thật ra làm gốm do em tự học nên một lần mình làm là rất thách thức, vì mình sẽ không thấy kết quả ngay lập tức trong quá trình làm việc. Không giống như vẽ một bức tranh, mình cho màu nào lên một bức tranh là mình thấy ngay kết quả, hoặc là gần như mình mường tượng ra được. Nhưng gốm thì khác, gốm thì bắt buộc mình phải trải qua rất nhiều quá trình làm việc, để mình chắc chắn ở nhiệt độ đó, ở cái form ( hình dạng ) đó và ở độ dày đó là sẽ ra màu như vậy, cùng độ men như vậy. Em có rất nhiều cảm xúc khác nhau, lẫn lộn, mỗi khi em nung lò thì rất là hồi hộp, sợ, rồi rất là stress, vì nhiều khi mình bê một  tác phẩm gốm chưa nung thì rất là dễ vỡ. Khi nung xong rồi mà lỡ nó bị nứt một cái thì không biết phải dán nó như thế nào! Nhiều khi để có một cái tác phẩm hoàn thành thì đã có nhiều, nhiều, nhiều lần stress và nhiều lần đau khổ! RFI: Những tác phẩm gốm của Hà My đã được triển lãm tại Galerie Bao. Chúng tôi thấy là các tác phẩm của Hà My thì có rất nhiều sự kết hợp giữa cơ thể con người với những thực vật, cây, cỏ, hoa, lá. Vì sao có sự kết hợp giữa hai yếu tố đó? Hà My Nguyễn: Dạ thực ra cái series mà em làm hoặc chủ đề mà em làm xuyên suốt từ vài năm nay bắt nguồn từ việc em sinh sống và làm việc ở Pháp, có con. Vào thời điểm em bắt đầu có con thì em cảm giác trong cơ thể mình có nhiều sự thay đổi về mặt tâm lý, về mặt sinh lý và bối cảnh lúc đấy mình là người nước ngoài sinh sống ở Pháp. Lúc nào em cũng có cảm giác giống như một người lạ. Em chỉ kết hợp tất cả mọi thứ diễn ra xung quanh đời sống hiện tại của em thôi, đưa vào điêu khắc hoặc bức vẽ của em. Em muốn những bức tượng của em sẽ có những form hơi mang tính trừu tượng một tí. Có thể mọi người sẽ thấy đó như một phần cơ thể người và nó sẽ mọc ra một vài chi tiết gần gũi với những chi tiết ở trong thiên nhiên như cây, cỏ, lá. Giữa thực vật và con người có những chi tiết rất là gần giống nhau. Thì em thích ở điểm đó. Nhưng những tác phẩm em làm ra thì em định hướng nó giống như một cái vật thể lai. Em không định hình nó giống như một con người, em không copy lại thiên nhiên, em không copy một cái hoa, một cái lá rõ ràng, nó luôn là một mix giữa hai cái đó. Tất cả mọi thứ em làm từ cách đây tầm 5 năm, từ thời em mang thai, sinh con, tất cả các form luôn gần như đầy đặn và thường sẽ có một vết cắt rất là nữ tính, nhưng mà vết cắt đó xuất phát từ bên trong và từ cái vết cắt đó nó sẽ luôn hiện hữu và sẽ xuất hiện ra vài thứ khác như hạt, lá hoặc những gai nhọn. RFI: Từ Việt Nam sang định cư ở Pháp từ năm 2018. Như vậy thì thời gian đầu, ngoài việc phải thích ứng với đời sống bên Pháp, Hà My có những "va chạm" như thế nào đến với nền văn hóa của Pháp, với các ngành nghệ thuật của Pháp? Hà My Nguyễn: Đối với em thì tất nhiên có một cái sốc văn hóa. Trong giai đoạn từ thời điểm năm 2018 cho đến cuối 2019 khi có dịch Covid, em phải đối mặt với rất nhiều thứ. Thứ nhất là về ngôn ngữ, về văn hóa và về việc làm mẹ. Đó là em chưa nói tới việc mình sẽ phải quay lại làm nghệ thuật như thế nào. Vì em nghĩ thách thức là rất lớn đối với một người nghệ sĩ nữ muốn làm mẹ, họ cần phải có những sự cố gắng khác, gấp đôi hơn, mà nhiều khi không phải ai cũng nhìn thấy. Nhưng em nghĩ bây giờ thì giai đoạn đó trải qua rồi, em đã thích nghi được với đời sống ở Pháp hơn. Mà em đang ở Paris, nghệ thuật ở đây thì em có thể nói gần như ở trung tâm của thế giới. Mình có cơ hội được nhìn thấy tất cả mọi thứ nghệ thuật đẹp đẻ nhất, hay ho nhất. Đó là một cơ hội rất to lớn đối với mình. Mình nhìn xung quanh, mình tự nhìn lại mình và mình tự tìm cách để phát triển. Em nghĩ có cơ hội nhiều hơn là thách thức. RFI: Như Hà My nói, Paris đúng là thủ đô của nghệ thuật thế giới, quy tụ rất nhiều tài năng không chỉ của Pháp mà của thế giới, chen chân vào đây không phải đơn giản. Vừa rồi Galerie Bao, một gallery chuyên về giới thiệu nghệ thuật đương đại châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, đã dành một không gian cho Hà My thực hiện một cuộc triển lãm cá nhân. Đó là cơ may thật sự đối với Hà My? Hà My Nguyễn: Đúng là em rất là may mắn được gặp ( Lê Thiên ) Bảo, người sáng lập Galerie Bao và làm việc với cô ấy. Làm nghệ sĩ ở Paris và kiếm cho mình được một gallery tốt để đại diện cho mình, làm triển lãm cho mình thực ra không dễ dàng và thực ra không phải nghệ sĩ nào cũng có gallery đại diện. Cũng may mắn là em biết Bảo trước đó ở Việt Nam. Bây giờ Bảo ở Paris và sinh sống, làm việc ở Pháp. Lúc đầu em kết nối lại với cô ấy, biết con đường định hướng của ấy là về nghệ thuật, thì em rất vui vì được làm việc và kết hợp với Bảo, bây giờ giống như một người bạn, có thể trò chuyện và tư vấn cho nhau về mặt nghệ thuật và hỗ trợ nhau trong về mọi mặt, có thể là đời sống hoặc nghệ thuật. Em rất là biết ơn Bảo và Galerie Bao là người đại diện cho em và giúp đỡ em, để em tiếp tục công việc làm nghệ sĩ và đưa tác phẩm của em ra công chúng, cho mọi người thấy nhiều hơn. Trước khi Galerie Bao xuất hiện thì em cũng có làm một vài triển lãm ở Pháp, nhưng chỉ  là triển lãm nhóm. Bước vào thị trường nghệ thuật ở Pháp thì rất nhiêu khê, không dễ dàng, tại vì không ai biết đến mình. Em nghĩ kết hợp với Galerie Bao, một gallery hỗ trợ rất nhiều cho nghệ sĩ Việt Nam, thì mình sẽ đi về một nơi gần giống như về nguồn, nơi mình thuộc về, kết hợp với nhau thì mình sẽ mạnh hơn. Kết quả thì em cũng thấy là sau khi làm việc với Bảo ở triển lãm Asian Now và sau một triển lãm cá nhân ở gallery của cô ấy, thì có những feedback ( phản hồi ) rất tốt và mọi người đã chú ý nhiều hơn và biết đến em nhiều hơn. Ngay cả những bạn bè ở Pháp trước đây không biết em làm nghệ thuật như thế nào  thì họ bắt đầu để ý đến tác phẩm của em và họ theo dõi nhiều hơn. RFI: Sống ở Paris, thủ đô nghệ thuật thế giới, có những tác động nào đối với con đường nghệ thuật của Hà Mỹ hay không? Bởi vì có thể có những sự giao thoa, những sự tìm hiểu về văn hóa ở Paris? Hà My Nguyễn: Dạ, tất nhiên là có, vì ở Paris, trung tâm nghệ thuật của thế giới, gần như cuối tuần nào em cũng phải đi xem một vài triển lãm. Rồi tuần nào cũng có một opening ( khai mạc một sự kiện văn hóa) và rất nhiều bảo tàng. Ngay cả về nghệ thuật thị giác nói riêng, nghệ thuật đương đại nói chung, ngay cả về âm nhạc hay về phim ảnh, tất cả giống như một nguồn sống rất dồi dào. Nhiều khi mình phải lựa chọn cân bằng giữa việc học hỏi, đi xem và làm việc, để không bị "bội thực". Mình xem người ta, rồi mình xem lại mình đang làm gì, để mình cố gắng hơn. Nhưng cái em thấy quan trọng nhất ở trong thực hành nghệ thuật của em, đó là khi tiếp xúc với rất nhiều nghệ thuật châu Âu hay phương Tây, thì mình thấy nên tập trung vào nghệ thuật gọi là "bản địa" của mình, về nguồn gốc của mình, mình đến từ đâu, mình là con người Việt Nam thì mình sẽ tập trung vào những cái làm nên con người mình. Cái mà em thấy "đắt giá" trong việc thực hành nghệ thuật, đó là độc bản, là unique, thì em sẽ không phải chạy theo xu hướng, thị hiếu nghệ thuật nói chung, nhưng mà em chỉ nhìn để em biết và để em tìm lại những cái thứ mình có, những câu chuyện riêng của mình, khai thác những câu chuyện riêng của mình và đưa ra giới thiệu cho công chúng biết đây là nghệ thuật của tôi và câu chuyện của tôi. Nhưng về mặt thị giác, hay các mặt khác, mình sẽ phải học hỏi về technique ( kỹ thuật ) hay trình bày, làm một chương trình, làm một triển lãm, thì tất nhiên mình sẽ phải học hỏi rất nhiều trong thế giới nghệ thuật hiện tại ở đây. Tại vì nghệ thuật của họ hay những gallery, những trung tâm nghệ thuật đã làm việc lâu đời và họ có nhiều thứ đáng để mình học hỏi.

  24. 1

    Pháp : Nguồn gốc và truyền thống tặng hoa muguet đầu tháng Năm

    Hoa muguet theo phiên âm Hán-Việt là hoa linh lan, gọi nôm na là hoa huệ chuông. Mỗi nhánh cây thường trỗ nhiều nụ hoa trắng hình quả chuông, có mùi hương thơm ngát. Hoa muguet thường xuất hiện vào Ngày Quốc tế Lao động. Nhưng ngoài việc cùng diễn ra vào ngày 1 tháng Năm, truyền thống tặng hoa muguet và ngày Lễ Lao động thật ra ít có liên quan với nhau. Theo Hiệp hội các nhà làm vườn ở Pháp (Société Nationale des Horticulteurs de France), truyền thống tặng hoa muguet vào mùa xuân bắt nguồn từ thời xa xưa, còn ngày lễ Lao Động chỉ có từ khoảng một thế kỷ nay. Trong huyền thoại Hy Lạp, thần dương quang Apollon đã tạo ra một thảm hoa muguet trên mặt đất để cho những đứa con gái của vị thần là 9 nàng thơ không dẫm lên sỏi đá, khi đi chân trần. Trong văn hóa cổ đại Hy Lạp, có truyền thống hái hoa thơm kết thành vòng xâu chuỗi, vào mùa xuân để tôn vinh Flora, vị thần của muôn loài hoa. Còn tại Pháp, truyền thống tặng hoa muguet tháng 5 có từ thời Phục Hưng, dưới thời vua Charles IX. Giai thoại kể rằng vào năm 1560, vua Charles IX cùng với thái hậu Catherine de Medicis, đã ghé thăm vùng Dauphiné. Hiệp sĩ Louis de Girard de Maisonforte đã hái nhiều nhánh muguet trong khu vườn của lâu đài Saint Paul-Trois Châteaux để tặng cho nhà vua, lúc ấy mới được 10 tuổi. Vua Charles IX rất thích mùi hoa muguet, nên khi trở về kinh thành, nhà vua mới ban lệnh tặng nhánh hoa muguet cho tất cả các phu nhân, quý bà trong triều đình. Hình thức tặng muguet không rườm rà về mặt nghi lễ, nhanh chóng trở thành một tục lệ phổ biến trong dân gian : tặng hoa muguet để chúc cho nhau trăm điều may mắn, vạn sự tốt lành. Thời kỳ Cách Mạng Pháp, mọi biểu tượng hay truyền thống gắn liền với hoàng gia, vương triều đều bị dẹp bỏ. Kịch tác gia Philippe-François Nazaire với bút danh « Fabre d'Églantine » đề nghị dùng hoa tầm xuân (églantine) một loài hoa hồng dại có trái đỏ, để thay thế cho hoa huệ chuông (muguet), mà ông cho là một biểu tượng của thời vua chúa. Việc tặng hoa tầm xuân diễn ra vào ngày 26 tháng Tư theo lịch Cộng hòa, thay vì ngày 1 tháng Năm như trước kia. Mãi đến đầu thế kỷ XX, truyền thống tặng hoa muguet mới được phục hồi vào ngày 1 tháng Năm. Các nghệ sĩ dùng một nhánh muguet thay thế cho hoa trà mi để cài trên ve áo khoác. Trong thời hậu chiến, các hiệu thời trang Pháp, đặc biệt là Chistian Dior, thường tặng hoa muguet cho toàn bộ đoàn thợ may, cũng như cho tất cả các khách hàng của công ty. Có lẽ cũng vì truyền thống tặng muguet này rơi vào cùng một ngày với Lễ Lao Động, chính thức trở thành một ngày nghỉ có trả lương tại Pháp từ năm 1946, tức cách đây 80 năm, cho nên nhiều người vẫn thường gắn liền biểu tượng của hoa muguet với ngày Lễ Lao Động tại Pháp. Trong nhiều thập niên qua, nhà nước Pháp cho phép các cá nhân cũng như các đoàn thể, hiệp hội được tự do bán hoa muguet trên đường phố, ở chốn công cộng. Tuy nhiên, người dân có thể bán các loại muguet được trồng ở ngoài vườn hoặc đi hái trong rừng, chứ không phải là hoa muguet mua từ các tiệm hoa hay từ các nhà trồng trọt, chủ yếu cũng vì mua hàng rồi bán lại là một hình thức kinh doanh cần phải khai báo.  Theo kênh truyền hình France 24, nhân ngày 1 tháng Năm, các nhà trồng hoa ở Pháp sản xuất khoảng 60 triệu nhánh muguet. Ngoài ngày lễ này, các nhà sản xuất trồng thêm muguet chủ yếu để chiết xuất hương liệu, cũng như để làm thảo dược. Vào những ngày đầu xuân đẹp trời, nhiều gia đình ở Pháp thường rủ nhau vào rừng đi hái tỏi gấu (ail des ours), hoa thủy tiên (jonquille) hay hoa huệ chuông (muguet). Về phần mình, cô Angelina cho biết cô thường mua hoa muguet làm quà tặng cho gia đình : « Theo truyền thống, người ta thường tặng cho nhau những nhánh hoa muguet (hoa huệ chuông) vào ngày 1 tháng 5. Đây cũng là một ngày lễ khá quan trọng ở Pháp, trong gia đình tôi, do mọi người đều được nghỉ lễ, nên đây cũng là dịp để cho gia đình quây quần bên nhau. Mỗi lần có djp gặp nhau, tôi vẫn thường mua hoa muguet để tặng cho mẹ tôi ». Hoa muguet dễ trồng, nhưng xét đơn thuần về mặt kinh doanh, hoa lại không dễ bán. Ông Yves Etancelin, chủ cửa hàng bán hoa ở thành phố Beauvais, vùng Picardie cho biết vì sao : « Hoa muguet khó giữ được lâu nên các chủ tiệm hoa phải biết cách xử lý nhanh. Do thời hạn kinh doanh rất ngắn, cho nên các nhà trồng hoa giao hoa đến các cửa hàng càng muộn càng tốt. Thường thì các tiệm hoa có thể trữ hoa muguet trong khoảng một tuần, nhưng đó là các nhánh hoa có giữ nguyên gốc, trồng ở trong chậu. Như vậy mới dễ quản lý hơn nhiều. Nếu là cành hoa tươi, chỉ có nhánh nhưng không còn gốc, thì đó là một sản phẩm rất dễ bị hư hỏng, nhánh muguet chỉ có thể giữ trong nước tối đa là hai ngày. Theo tôi nghĩ, 95% những người bán hoa sẽ đồng ý rằng đây là ngày lễ nhọc công, vất vả đối với người bán hoa vì muguet khó giữ được lâu, nếu không bán được trong ngày thì phải đành vứt đi, chưa kể đến chuyện chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc khá nhiều vào khí hậu thời tiết ». Về phần mình, cô Mélanie Mourisset là một nhà trồng hoa ở vùng Nouvelle Aquitaine. Công ty gia đình cô mỗi năm sản xuất khoảng 500.000 nhánh hoa muguet chủ yếu để kinh doanh nhân ngày lễ 1 tháng 5. Cô cho biết những rủi ro của ngành trồng muguet : « Bất kỳ nhà sản xuất nào trong ngành trồng rau quả hay hoa tươi đều phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, nhưng những nhà trồng hoa muguet lại càng dễ bị thời tiết ảnh hưởng mạnh hơn nữa. Riêng với vụ thu hoạch nhân ngày 1 tháng 5, tốt nhất là tính toán cách trồng muguet sao cho các nhánh ra hoa vào đúng dịp lễ, vì nếu nở rộ quá sớm hoặc quá muộn, nhà trồng hoa có nguy cơ bị thất thu, hái rất nhiều hoa mà vẫn không bán được. Chúng tôi cố gắng hái hoa ở độ « tối ưu » , nghĩa là trên cùng một nhánh không có nhiều hoa đã nở rộ mà cũng không có quá nhiều nụ xanh non, để đảm bảo là chùm hoa sẽ nở đúng vào dịp lễ. Sau khi hái xong, hoa muguet được vận chuyển đến phòng có điều hòa nhiệt độ . Điều quan trọng đầu tiên là hoa được cho vào xô nước có pha chất bảo quản, rồi cất vào trong phòng có đủ độ mát lạnh. Chỉ vài hôm trước ngày 1 tháng 5, hoa muguet mới được lấy ra khỏi phòng, rồi được sắp xếp bằng tay, ngắn hay dài, lớn hay nhỏ. Chỉ có những nhánh hoa tốt nhất mới được cho vào hộp cách nhiệt để vận chuyển đến các tiệm hoa. Những năm bội thu chính là thời kỳ hoa muguet nở ngay vào đúng mùa lễ, không quá sớm mà cũng chẳng quá muộn ». Theo ông Farell Legendre, trưởng ban điều hành nghiệp đoàn các chủ tiệm hoa ở Pháp, với thời gian biểu tượng hoa muguet đã đi vào đời sống thường ngày, trở thành một phần của văn hóa Pháp từ lúc nào không hay : « Trong một thời gian dài, biểu tượng của ngày 1 tháng 5 là hoa tầm xuân. Dưới thời Cách Mạng Pháp, hoa églantine được dùng để thay thế cho hoa muguet. Mãi đến đầu thế kỷ XX, truyền thống tặng hoa muguet mới được khôi phục tại Pháp. Theo truyền thống, khi tặng hoa muguet, ta nên tặng một chùm nhỏ với ba nhánh hoa cột lại, thay vì chỉ tặng một nhánh duy nhất. Và trên mỗi nhánh muguet, lý tưởng nhất là nên có 13 bông hoa trắng hình quả chuông : số 13 ở đây lại được cho là số hên, có thể đem lại nhiều may mắn cho người nhận. Vì vậy, nhiều người tiêu dùng ở Pháp vẫn thường tặng cho nhau một chùm ba nhánh. Nếu muốn giữ lâu hơn một chút, nên tặng hoa muguet trồng ở trong chậu. Nhưng dù có tin thuật số học hay không, tặng hoa muguet là một cách để chúc cho nhau được nhiều hạnh phúc và may mắn ».

  25. 0

    Đạo diễn Vương Binh: Đồng hành với những người bên lề xã hội Trung Quốc

    Không phải vô cớ mà Liên hoan Quốc tế Điện ảnh Châu Á 2026 tại thành phố Vesoul của Pháp ( 27/01-03/02/2026 ) đã chọn đạo diễn Trung Quốc Vương Binh ( Wang Bing ) làm chủ tịch ban giám khảo quốc tế: Nhà làm phim độc lập này, hiện sống ở Paris, được giới phê bình quốc tế đánh giá là “đạo diễn phim tài liệu xuất sắc nhất hiện nay”. Chính là để vinh danh toàn bộ sự nghiệp của Vương Binh mà vào đêm khai mạc 27/01, Liên hoan Vesoul đã trao cho ông giải “Cyclo vàng danh dự”. Trước đó, các phim của Vương Binh đã từng được chọn đi tranh giải tại những liên hoan phim lớn như Cannes (2023), Locarno (2024) và Venise (2024). Là một người rất thích các tác phẩm sử thi, ông bắt đầu nổi tiếng vào năm 2003 với bộ phim dài 9 tiếng đồng hồ "Thiết Tây Khu", trước khi ra mắt bộ phim truyện đầu tay "Giáp Biên Câu" (2010) và phim tài liệu "Thanh Xuân”, được trình chiếu tại Liên hoan phim Cannes năm 2023. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, đạo diễn Vương Binh cho biết:  “Tôi bắt đầu làm phim vào năm 1999. Cũng như những sinh viên khác, sau khi học xong ở Học viện Điện ảnh Bắc Kinh, tôi bắt đầu làm phim riêng. Nhưng do ở Trung Quốc có rất nhiều vấn đề, tôi muốn làm những bộ phim độc lập, không muốn tiếp tục làm kiểu phim được sản xuất dưới hệ thống chính quyền Trung Quốc. Vì vậy, trong hoàn cảnh đó, tôi chỉ có thể chọn làm phim tài liệu, dễ làm hơn, trong khi làm phim truyện, nhất là phim dài, cần phải có rất nhiều nguồn lực và ở Trung Quốc thì làm phim truyện bị kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Đối với chúng tôi, bắt đầu sự nghiệp bằng cách làm phim truyện không phải là lựa chọn phù hợp.” Các tác phẩm của Vương Binh luôn tập trung vào những người bị gạt sang bên lề trong quá trình phát triển kinh tế thần tốc của Trung Quốc: những công nhân nhà máy, những trẻ em phải sống tự lập, thậm chí ông đề cập đến cả những nạn nhân bị lãng quên của các trại lao cải thời Mao Trạch Đông. Đạo diễn Vương Binh giải thích cho sự lựa chọn đó:   “Tôi không nghĩ những chủ đề này đặc biệt nhạy cảm, bởi vì tôi cảm thấy đây là một số vấn đề nổi bật nhất nảy sinh từ những thay đổi mà đất nước này đã trải qua trong những thập kỷ gần đây. Có thể nói rằng, sau những câu chuyện này còn có những vấn đề khác. Về thời kỳ Mao Trạch Đông, đây là một mảng lịch sử của một xã hội ở Trung Quốc đã tồn tại hơn 30 năm. Cho dù được đánh giá như thế nào, mảng lịch sử này vẫn hiện hữu, và chúng ta cần có những tác phẩm để phản ánh nó. Do đó, bộ phim này, trong bối cảnh lịch sử điện ảnh, cho phép chúng ta thấy được giai đoạn này của xã hội.” Vương Binh thật ra đã tận dụng một trường sáng tác tương đối tự do vào thời gian Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào những năm 2000 để nắm bắt làn sóng làm phim độc lập, được hỗ trợ bởi sự ra đời của công nghệ số và phần mềm dựng phim miễn phí, không bị nhà nước kiểm soát. Trả lời phỏng vấn AFP ngày 03/02/2026, ngày bế mạc Liên hoan Vesoul, Vương Binh thổ lộ: "Tôi không biết thời gian nới lỏng về chính trị sẽ kéo dài bao lâu. Tôi cảm thấy mình phải nắm bắt khoảnh khắc lịch sử này. Vì vậy, tôi đã quay phim rất nhiều, về những chủ đề đặc biệt nhạy cảm đòi hỏi rất nhiều thời gian." Chính trong giai đoạn này, ông bắt đầu nghiên cứu về trại lao cải Gia Băng Ngân ở vùng tây bắc Trung Quốc, nơi hàng nghìn tù nhân đã chết vì đói vào đầu những năm 1960. Thành quả của nghiên cứu là "Tử linh hồn" (2018), một bộ phim tài liệu dài hơn tám tiếng, trong đó các nhân chứng kể lại sự sống sót của họ trong trại tập trung thông qua những cảnh quay dài, tĩnh lặng.  Vương Binh cho biết đây là một phần của dự án lớn hơn có thể kéo dài gần 50 giờ, và ông tự nhận mình "may mắn" khi đã thuyết phục được khoảng một trăm người sống sót, "nạn nhân của sự đàn áp cực độ," để làm chứng. Những người này sống rải rác khắp Trung Quốc.  Tuy nhiên, Vương Binh vẫn chưa dám đụng đến một chủ đề "đại cấm kỵ" ở Trung Quốc, đó là cuộc đàn áp đẩm máu phong trào biểu tình đòi dân chủ ở Thiên An Môn, Bắc Kinh tháng 06/1989: "Ngày 4/6/1989 chắc chắn là một sự kiện lịch sử rất quan trọng, một sự kiện lớn được biết đến trên toàn thế giới. Sự kiện này đã có tác động đáng kể đến Trung Quốc và giới lãnh đạo của nước này. Tuy nhiên, phim của tôi chủ yếu nói về những thay đổi ở Trung Quốc trong những năm 2000, thậm chí còn cấp bách hơn. Những sự kiện thực tế đã xảy ra cũng rất, rất quan trọng. Từ bộ phim đầu tiên cho đến tất cả các bộ phim tôi đã làm kể từ đó, không bộ phim nào có thể được phát hành. Điều này là do một số vấn đề xã hội ở Trung Quốc vào giai đoạn lịch sử này. Tuy nhiên, đối với cá nhân tôi, điều quan trọng hơn là tôi có thể hoàn thành những bộ phim mình muốn làm. Chúng có được phát hành hay không, điều đó không quan trọng lắm đối với tôi." Sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào cuối năm 2012, thời kỳ tự do và sáng tạo tương đối kết thúc và Vương Binh đã không đặt chân về nước kể từ năm 2021 và kể từ nay sống ở Paris. Chính trong thời gian Vương Binh định cư ở nước ngoài đã ra đời “Thanh Xuân”, một bộ phim tài liệu hợp tác Pháp-Luxembourg-Hà Lan-Trung Quốc do ông đạo diễn và phát hành năm 2023. Bộ phim gồm 3 tập, nói về cuộc sống của một nhóm công nhân dệt may trẻ tuổi ở Trực Lệ ( Zhili ), một thị trấn thuộc quận Vô Tích của Hồ Châu, nằm cách Thượng Hải 150 km. Hàng năm, những người trẻ tuổi rời bỏ làng quê của họ để di cư đến thị trấn công nghiệp này. Họ làm việc không ngừng nghỉ với hy vọng một ngày nào đó sẽ có con, mua nhà hoặc bắt đầu công việc kinh doanh riêng. Tình bạn và tình yêu hình thành và tan vỡ theo sự thay đổi của các mùa. Sự phân tán về địa lý, sự bất ổn về tài chính và áp lực kinh tế và gia đình làm xói mòn sự ngây thơ và tuổi trẻ của họ. Trả lời phỏng vấn của trang mạng chuyên về điểm phim Tsounami ngày 05/04/2025 nhân dịp tập 2 và tập 3 của bộ phim “Thanh Xuân” ra mắt công chúng Pháp, Vương Binh cho biết: “Trong "Thanh Xuân", tôi theo dõi cuộc sống thường nhật của các cá nhân. Các câu chuyện khá rời rạc và khán giả không dễ dàng nhận ra sự khác biệt lớn giữa các phần. Nhưng đối với tôi, góc nhìn giữa phần một và phần hai không giống nhau: trong phần một, tôi quay phim về các cá nhân, đời sống tình cảm, cuộc sống thường nhật của họ, tất cả được kết hợp với một khía cạnh cảm xúc sâu sắc; trong phần hai, tôi cố gắng dành nhiều không gian hơn cho các vấn đề và điều kiện xã hội, cách thức hoạt động và những khó khăn họ phải đối mặt… Đối với tôi, có sự khác biệt về góc nhìn, ngay cả khi hai bộ phim có điểm tương đồng về hình thức, đó là ghi lại cuộc sống thường nhật.”  Vương Binh giải thích thêm: “Tôi đã từng có một dự án quay phim trong một nhà máy rất lớn và đã bắt đầu tìm kiếm địa điểm. Nhưng mọi chuyện phức tạp hơn. Ở Trung Quốc có các công ty đủ mọi quy mô, từ các xưởng nhỏ đến các nhà máy lớn. Việc quay phim bên trong những nhà máy đó và theo dõi cuộc sống của công nhân sẽ bị hạn chế hơn, bởi vì họ không có được sự tự do như chúng ta thấy trong phim. Mọi thứ bị giám sát chặt chẽ hơn, quản lý nghiêm ngặt hơn. Khi tôi đến Trực Lệ vào năm 2014 và khám phá một thành phố rộng lớn được tạo nên từ những xưởng sản xuất rất mở, nơi ta có thể đi lại dễ dàng, tôi nghĩ đó là nơi phù hợp với mình hơn nhiều.” Tuy những đề tài ông đề cập có thể bị coi là có nội dung chống chế độ, Vương Binh vẫn khẳng định ông "không làm chính trị", mà "làm nghệ thuật", dù tác phẩm của ông không được phổ biến rộng rãi ở đất nước mình. Ông nhìn nhận với AFP: "Tôi biết có những người xem phim của tôi. Họ vượt qua bức tường lửa Internet để xem. Nhưng so với dân số Trung Quốc, con số đó còn rất ít". Vương Binh còn ghi nhận là, khác với ông, "trong toàn bộ lịch sử điện ảnh Trung Quốc, chưa từng có một đạo diễn nào mà tất cả các bộ phim đều được thực hiện theo ý muốn của riêng mình, chưa ai được quay đúng những bộ phim mà mình muốn". Và nếu Vương Binh sống ở Paris ngày nay không phải vì ông không sợ chính phủ Trung Quốc: mà là vì ông phớt lờ chế độ đó. Ông giải thích: "Nếu mình nghĩ về nó mỗi ngày, đó là lúc nó kiểm soát mình. Vài thế kỷ nữa, mọi người vẫn có thể xem phim của tôi để hiểu những gì đã xảy ra. Nhưng sẽ không ai còn nghe những gì chính phủ nói nữa."  Sống ở thủ đô Pháp, Vương Binh nhận được nhiều sự hỗ trợ của ngành điện ảnh cho những dự án sắp tới: "Thực ra Pháp hỗ trợ các đạo diễn trên toàn thế giới, không chỉ riêng tôi. Vì vậy, từ khi làm bộ phim đầu tiên, tôi đã nhận được rất nhiều lời đề nghị và sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng của Pháp và toàn ngành điện ảnh. Do đó, trong quá trình làm phim, một đội ngũ ổn định    đã được hình thành. Một mặt, do công việc gần đây của tôi, tôi có thời gian tham dự liên hoan phim này. Mặt khác, tôi cảm thấy rằng vì có rất nhiều người ủng hộ phim của tôi, tôi cũng cần phải hỗ trợ những người khác."

Type above to search every episode's transcript for a word or phrase. Matches are scoped to this podcast.

Searching…

We're indexing this podcast's transcripts for the first time — this can take a minute or two. We'll show results as soon as they're ready.

No matches for "" in this podcast's transcripts.

Showing of matches

No topics indexed yet for this podcast.

Loading reviews...

ABOUT THIS SHOW

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

HOSTED BY

RFI Tiếng Việt

Produced by France Médias Monde

CATEGORIES

Frequently Asked Questions

How many episodes does Tạp chí văn hóa have?

Tạp chí văn hóa currently has 25 episodes available on PodParley. New episodes are automatically indexed when they're published to the podcast feed.

What is Tạp chí văn hóa about?

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

How often does Tạp chí văn hóa release new episodes?

Tạp chí văn hóa has 25 episodes. Check the episode list to see recent publication dates and frequency.

Where can I listen to Tạp chí văn hóa?

You can listen to Tạp chí văn hóa on PodParley by clicking any episode. We provide an embedded audio player for direct listening, and you can also subscribe via your preferred podcast app using the RSS feed.

Who hosts Tạp chí văn hóa?

Tạp chí văn hóa is created and hosted by RFI Tiếng Việt.
URL copied to clipboard!